Phật hiệu A Di Đà và Pháp môn Tịnh độ

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) - Sức lan tỏa của pháp môn Tịnh độ và hình ảnh Đức Phật A Di Đà đã đi vào tâm thức người Việt Nam cả trong cách chào hỏi. Niệm Nam mô A Di Đà Phật là đã nói thật nhiều, nói hết tất cả những ý nghĩa sâu xa của Phật đạo...
Phật hiệu A Di Đà và Pháp môn Tịnh độ

1. Ngày còn làm một chú điệu, cứ khoảng 16 giờ 15 phút là tôi được thầy nhắc nhở lo ngừng công việc, đi rửa tay chân để chuẩn bị lên chánh điện hồi chuông trống và đi công phu chiều.

Ngôi chùa tôi ở thuở đó sống nhờ vào trồng trọt nên phải lao động chân tay. Công việc vất vả nhưng dù có là vụ mùa hay công việc đang dang dở cũng phải ngưng để ưu tiên cho việc lên chùa tụng khóa kinh chiều.

Công phu chiều hàng ngày, kinh tụng chính là kinh A Di Đà, bản kinh mà tôi được thầy dạy phải học thuộc lòng lúc mới vào chùa làm tiểu. Kinh tụng buổi chiều ngoài kinh A Di Đà, còn có kinh Hồng Danh và Thí Thực. Công phu chiều thường rơi vào tầm khoảng 17 giờ. Tùy theo mùa mà giờ giấc công phu có thể thay đổi cho phù hợp nhưng nó là sinh hoạt tu tập không thể thiếu trong thời khóa hàng ngày.

2. Xin chia sẻ qua để quý vị hiểu thêm về pháp môn niệm Phật A Di Đà của hệ phái Tịnh độ. Trước thế kỷ thứ III, theo Cựu tạp thí dụ kinh, danh hiệu của Đức Phật A Di Đà được nhắc đến sớm nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Pháp môn niệm Phật cũng đã được đề cập trong Lục độ tập kinh do Khương Tăng Hội dịch sang chữ Hán.

Đến thế kỷ thứ V, thiền sư Đàm Hoằng (mất năm 455) đã sang Việt Nam tu tập. Ngài ở tại trung tâm Phật giáo lớn của nước ta thời bấy giờ là chùa Tiêu Sơn. Tại đây, ngài đã phổ biến bản kinh Vô Lượng Thọ. Đàm Hoằng là nhà sư Trung Quốc chuyên hành trì pháp môn Tịnh độ với ước nguyện vãng sinh cực lạc. Vô Lượng Thọ là bản kinh căn bản khuyên tu tịnh độ.Từ đây, pháp tu tịnh độ đã trở thành một trào lưu phổ biến ở nước ta. Tuy nhiên, lịch sử phát triển của pháp tu này bị ngắt quãng cho đến khoảng năm 826.

Điều thú vị khi chúng tôi dập các văn bia trong quá trình điền dã, khảo cứu về các vị thiền sư thì tất cả các văn bia còn lại của thời lý nói chung đều có chữ mở đầu: A Di Đà Phật. Đây là danh hiệu của Phật A Di Đà, giáo chủ cõi tịnh độ. Việc thờ cúng Phật A Di Đà và Bồ Tát Quan Âm (hay còn gọi Phật Bà Quan Âm, đã trở nên phổ biến ngay từ thời kỳ này.

Khi nghiên cứu về hệ phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, chúng ta biết, đây là một hệ phái có ảnh hưởng của tư tưởng Bà La Môn và mật giáo. Trong các hệ phái Thảo Đường và Vô Ngôn Thông sau này khó có thể tìm ra mối liên hệ nổi bật nào của tịnh độ với tông các thiền phái này.

Vậy vì sao tịnh độ tông lại phát triển rộng rãi trong đời sống dân gian và có những thành tựu căn bản vào giai đoạn này?

Đi sâu vào bộ kinh mà tổ Tỳ Ni đã dịch là Kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì, ta sẽ có câu trả lời thú vị. Đây là bộ kinh căn bản của mật giáo (trong kinh dẫn lời Đức Phật Thích Ca dạy A Dật Đa: “Này A Dật Đa! Ông nên thọ trì mật giáo của Như Lai, dùng thiện phương tiện mà rộng thuyết pháp cho mọi người". Nhưng ngay trong phần đầu, lại là những câu chuyện ca ngợi Tỳ Kheo Tịnh Mạng, một tiền kiếp của Phật A Di Đà.

Tỳ Kheo Đạt Mạ do chỉ trích tỳ kheo Tịnh Mạng mà sau sẽ thành đạo ở cõi ta bà với đầy những khó khăn, uế trược. Còn Tỳ Kheo Tịnh Mạng thì đã thành Phật sớm hơn, không phải đọa vào địa ngục, bàng sanh hay làm thân người hạ tiện như Tỳ Kheo Đạt Mạ. Tỳ kheo Tịnh Mạng đã thành Phật ở một cõi nước hoàn toàn thanh sạch. Đó chính là cõi nước Tịnh Độ và ngài có tên gọi là Phật A Di Đà.

3. Đặt bộ kinh này trong bối cảnh ra đời, (được tổ Tỳ Ni dịch tại chùa Pháp Vân; là bộ kinh căn bản khuyên hành Mật giáo), chúng ta có thể hiểu vì sao, bên cạnh sự tiếp nối từ lịch sử, với sự truyền thừa của trào lưu tịnh độ từ thế kỷ thứ V, các vị thiền sư của hệ phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi dù thực hành đạo Phật với ảnh hưởng lớn của Mật Pháp lại xưng tán Phật A Di Đà để làm biểu trưng và đưa pháp môn Tịnh độ vào trong lòng đời sống xã hội.

Thiền sư Pháp Hiền, người truyền thừa tiếp nối tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã dựng nên trung tâm của thiền phái là chùa Chúng Thiện thuộc vùng núi Tiên Du, Bắc Ninh. Vùng núi này, thiền sư Đàm Hoằng hơn một thế kỷ trước đã truyền bá và phát triển pháp tu tịnh độ với bản kinh Vô lượng thọ.Như vậy, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã được khơi nguồn và tiếp nhận từ bản kinh căn bản, kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì với sự xưng tán ngợi ca đức Phật A Di Đà, giáo chủ cõi tịnh độ. Trung tâm đầu tiên của thiền phái này cũng được lập tại vùng đất có lịch sử phát triển mạnh mẽ của phái tịnh độ.

Để truyền bá hệ tư tưởng mới của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, hẳn thiền sư Pháp Hiền đã phải khéo léo vận dụng những thiện xảo để vừa kế thừa và phát triển những thành quả và sự phát triển của hệ phái cũ do tổ Đàm Hoằng tạo dựng, vừa khéo léo xiển dương và truyền bá một đường hướng và hình thức tu tập mới mẻ hơn.

Đây cũng có thể coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng và biểu hiện rõ rệt và sự phát triển của yếu tố Tịnh độ trong tư tưởng của các thiền sư truyền thừa hệ phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Những pho tượng Phật Di Đà tiêu biểu cùng với pháp môn niệm phật và lời chào cửa miệng mở đầu bằng Phật hiệu A Di Đà được hình thành và lan truyền trong dân gian vẫn còn duy trì đến ngày nay.

(còn nữa)

Ý nghĩa sáu chữ hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật

Đây là câu hỏi rất hay nghe thì tưởng dễ mà để hiểu nghĩa thì vô cùng khó, đòi hỏi người giải thích phải am hiểu rất sâu sắc nghĩa của từ “hồng danh” là gì? Nếu các bạn sa vào màu sắc thì là sai hoàn toàn không thể giải thích nổi điều này nữa mà còn hiểu sai ý nghĩa của chữ “hồng danh” trên đây.

Vậy “hồng danh” là gì? Hồng danh: là từ ghép Hán Việt gồm hai từ Hồng và Danh ghép lại mà thành.

Hồng có nhiều nghĩa như sau:

- Nghĩa thứ nhất là: Cả, lớn. Như hồng lượng 洪量 lượng cả, hồng phúc 洪福 phúc lớn.

- Nghĩa thứ hai là: Hồng thủy 洪水 nước lụt, thường gọi tắt là hồng.

- Nghĩa thứ ba là: Mạch hồng 脈洪 mạch chạy đùn đùn như nước lên gọi là mạch hồng.

Danh: là chỉ danh xưng (tên); khi chỉ địa vị thì là chức danh, khi chỉ nơi chốn thì là địa danh… Ở đây ta hiểu theo nghĩa danh xưng tên gọi.

Tóm lại: Hồng danh là chỉ cái danh xưng, là tên nổi tiếng nhất, lớn nhất, cao tột nhất, cao cả nhất mà không có ai có thể sánh bằng. Sáu chữ hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật là cao cả nhất, vĩ đại nhất không có gì hơn. Tại sao lại nói là cao cả nhất vì nếu ta phân tích ra thì thấy: "Nam Mô" là từ Hán dịch ra chữ Việt tức là quy y, tức nghĩa là “nương tựa”, hoặc “trở về”, “trao mạng” cho... Ở đây là nói chúng ta nương tựa vào đức Phật A Di Đà, quy y Ngài và trao thân mạng cho Ngài.

Chữ "A" là từ Hán dịch ra tiếng Việt là "Vô".

Chữ "Di Đà" dịch ra tiếng Việt là "Lượng".

Chữ "Phật" dịch ra tiếng Việt là "Giác".

Vậy câu Nam Nam Mô A Di Đà Phật nghĩa là trở về nương tựa với bậc Vô Lượng Giác! Đây là từ trên mặt chữ mà giải thích ý nghĩa.

Chữ "A Di Đà" dịch ra là "Vô Lượng" thì nên biết đức A Di Đà Phật có vô lượng danh xưng và vô lượng nghĩa vi diệu. Chứ không phải chỉ là Vô Lượng Giác hay Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang thôi đâu!

Theo Quảng Tịnh (Phatgiao.org.vn)

Thích Tâm Hiệp
Cùng chuyên mục

Đọc thêm

Thắp sáng lòng biết ơn

Thắp sáng lòng biết ơn
(PLVN) - Thắp sáng lòng biết ơn và ý thức về nguồn cội chính là làm cho tâm thức văn hóa của dân tộc trở thành nguồn mạch, thành dòng nhựa sống nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và hiếu hạnh dân tộc Việt.

Hạ về, sen nở mừng ngày Phật đản sinh

Hạ về, sen nở mừng ngày Phật đản sinh
(PLVN) - Ngày mùng 8 tháng 4 là ngày Bụt ra đời. Gần 3000 năm trước, từ bước chân của con người vĩ đại ấy, nhân loại được biết đến một sự thật lớn: “Tất cả chúng sinh đều có tính Bụt”.

Những nẻo đường hóa duyên

Những nẻo đường hóa duyên
(PLVN) - Không nhất thiết phải tới chùa mới có thể làm công quả, mới có thể thấy Phật. Càng không phải ở nơi những vị tu hành, mới thấy được bóng dáng của một Thiền sư.

Ngũ giới tam quy và Lý triều Quốc sư Thánh tổ kệ dẫn (Tiếp theo và hết)

Chùa Keo Thái Bình.
(PLVN) - Trong cuốn Quốc âm sa di thập giới, phần lời tựa, thiền sư Như Trừng viết: “Nước Nam ta từ xưa đến nay, người xuất gia đều thọ tam quy ngũ giới”. Như vậy, khi Nguyễn Du viết Kiều: “Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia” là hoàn toàn phù hợp với kiến thức Phật học tại thời điểm lúc bấy giờ.

Điển tích Chùa Bổ Đà có vườn tháp lớn nhất Việt Nam, lưu giữ bộ mộc bản kinh Phật cổ nhất

Một góc chùa Bổ Đà.
(PLVN) - Chùa Bổ Đà là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt. Chùa là quần thể lớn, tọa lạc tại thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang - danh lam cổ tự nổi tiếng của xứ Kinh Bắc xưa. Chùa Bổ Đà có điển tích huyền bí, cũng như có vườn tháp lớn nhất Việt Nam, lưu giữ bộ mộc bản kinh Phật cổ nhất.

Dấu xưa thời khẩn hoang lập ấp ở ngôi đình cổ nhất phương Nam

Ngôi đình với kiến trúc truyền thống độc đáo vẫn đứng vững theo thời gian.
(PLVN) - Đình Thông Tây Hội (phường 11, quận Gò Vấp, TP HCM) đã có từ hơn 3 thế kỷ trước, từ thuở những nhóm cư dân đầu tiên xuôi Nam vượt ngàn dặm đường đến vùng Gia Định mở đất. Trải qua bao biến thiên dâu bể, ngôi đình cổ nhất đất Nam Bộ này vẫn còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa - tín ngưỡng tốt đẹp của dân tộc và nghệ thuật kiến trúc truyền thống độc đáo.

Ngôi đền thiêng thờ vị thần “hộ dân bảo quốc” suốt 4000 năm lịch sử

Toàn cảnh đền Đồng Cổ.
(PLVN) - Đó là đền Đồng Cổ thờ thần Đồng Cổ - vị thần có công lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Ngôi đền tọa lạc tại làng Đan Nê (xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) tương truyền có từ thời Hùng Vương, soi bóng xuống hồ bán nguyệt, bên cạnh là núi Tam Thai có quán Triều Thiên trên đỉnh nhìn xuống toàn cảnh sông Mã.

Ngôi đền thiêng 1500 tuổi nơi phát tích bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà“

Đền Xà.
(PLVN) - Đền Xà thờ đức thánh Tam Giang, tọa lạc tại thôn Xà Đoài, xã Tam Giang (huyện Yên Phong, Bắc Ninh) có niên đại từ thế kỷ 6 đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1988. Ngôi đền thiêng cũng là nơi phát tích bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà” - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. 

Đình Quan Lạn – Ngôi đình thiêng 300 tuổi bên sóng nước Vân Đồn

Đình Quan Lạn đã có lịch sử hơn 300 năm.
(PLVN) - Đình Quan Lạn (xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) được xây dựng ở giữa làng, nhìn ra vịnh biển nơi có ba hòn đảo tạo nên bức bình phong, phía sau tựa vào năm ngọn núi... Các bậc tiền đã xây dựng ngôi đình Quan Lạn với lối kiến trúc độc đáo ghi dấu ấn văn hóa của người Việt trên vùng biển Đông Bắc. Điều đó không chỉ được thể hiện qua sự độc đáo của kiến trúc mà còn ngay trong lễ hội có một không hai của đình Quan Lạn. 

Ngôi đình 300 tuổi đẹp nhất xứ Kinh Bắc còn tồn tại đến ngày nay

Đình Bảng là một trong những ngôi đình làng đẹp nhất xứ Kinh Bắc.
(PLVN) - Trong suốt gần 300 năm, trải qua hàng loạt những biến cố của lịch sử dân tộc ngôi đình làng Đình Bảng (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) vẫn đứng vững. Đình làng Đình Bảng từ lâu đã được coi là một trong những ngôi đình đẹp nhất xứ Kinh Bắc và cả Việt Nam, bởi đây là một công trình kiến trúc cổ đồ sộ chứa đựng giá trị nghệ thuật trang trí gỗ truyền thống đặc sắc. 

Cổ tự trăm tuổi với tập tục “đánh kẻ tiểu nhân” ở Sài Gòn

 Hội quán Ôn Lăng được cộng đồng người Hoa xây dựng năm 1740.
(PLVN) - Được xây dựng từ gần 300 năm trước, Hội Quán Ôn Lăng (đường Lão Tử, phường 11, quận 5) là điểm đến linh thiêng trong cộng đồng người Hoa ở TP HCM. Nơi đây nhiều năm qua được biết đến với tập tục có một không hai - “đánh kẻ tiểu nhân”, mang ý nghĩa cầu may mắn, bình an đồng thời xua đuổi những điều xui xẻo, những “kẻ tiểu nhân” đi theo quấy rối mình.

Bí ẩn xung quanh hai pho tượng trong ngôi chùa Cầu Đông

Tượng thờ Thái sư Trần Thủ Đô và vợ Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung.
(PLVN) - Theo tài liệu nghiên cứu về 1000 năm Thăng Long do nhà văn Tô Hoài và nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc chủ biên thì chùa Cầu Đông là chùa duy nhất ở Hà Nội hiện nay thờ vợ chồng Thái sư Trần Thủ Độ. Tuy nhiên, nguồn gốc và lịch sử về hai pho tượng này đến giờ vẫn là một bí ẩn. 

Tìm hiểu Luân hồi và Nhân quả trong đạo Bụt

Luân hồi đơn giản là sự tiếp nối, không ngừng nghỉ của vạn vật trong vũ trụ.
(PLVN) - Khái niệm, hiện tượng về kiếp Luân hồi và Nhân quả trở thành nỗi trăn trở, ám ảnh ngàn đời của các thế hệ con người. Có hay không việc "đời cha ăn mặn, đời con khát nước", kiếp trước ăn ở bạc ác, kiếp sau phải chịu nghiệp báo. Liệu người chết ở kiếp trước rồi sau này đầu thai vào những kiếp sau không? Đạo Phật giải thích về vấn đề này như thế nào?