Chuẩn nghề nghiệp giáo viên: Có phát sinh… 'chuẩn giả'?

Thứ Tư, 10/10/2018 06:45 GMT+7
(PLO) - Từ hôm nay 10/10/2018, Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông do Bộ GD-ĐT ban hành ngày 22/8/2018 có hiệu lực. 
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên: Có phát sinh… 'chuẩn giả'?
Các tiêu chí cần thực tế, tránh tiêu cực phát sinh (Ảnh minh họa)

Theo đó, việc phân loại giáo viên (GV) thành từng hạng, ngoài bằng cấp chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm thì phải có các chứng chỉ kèm theo về Tin học, Ngoại ngữ, là hai vấn đề được thầy cô và các chuyên gia cho rằng cần có một lộ trình dài, chứ không thể áp dụng ngay cho… có. 

 Xếp loại GV theo 4 mức

Các tiêu chuẩn gồm: phẩm chất nhà giáo; phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; xây dựng môi trường giáo dục; phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình - xã hội và sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc, ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục. Ở tiêu chuẩn cuối cùng, mức đạt là GV (GV) có thể sử dụng được các từ ngữ giao tiếp đơn giản bằng ngoại ngữ (ưu tiên tiếng Anh) hoặc ngoại ngữ thứ hai (đối với GV dạy ngoại ngữ) hoặc tiếng dân tộc đối với những vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc.

Mức khá: Có thể trao đổi thông tin về những chủ đề đơn giản, quen thuộc hàng ngày hoặc chủ đề đơn giản, quen thuộc liên quan đến hoạt động dạy học, giáo dục (ưu tiên tiếng Anh) hoặc biết ngoại ngữ thứ hai (đối với GV dạy ngoại ngữ) hoặc tiếng dân tộc. Mức tốt: Có thể viết và trình bày đoạn văn đơn giản về các chủ đề quen thuộc trong hoạt động dạy học, giáo dục hoặc ngoại ngữ thứ hai (đối với GV ngoại ngữ) hoặc tiếng dân tộc…

Theo các thầy cô thì việc phân hạng GV là cần thiết, vừa đảm bảo sự công bằng, vừa là động lực thúc đẩy GV chịu khó nghiên cứu, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, nhất là đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục đặt ra. Tuy nhiên, còn một số quy định trong phân hạng chưa phù hợp thực tế. Để đạt được GV hạng I đối với bậc THPT không phải là dễ dàng vì đòi hỏi GV phải có bằng tốt nghiệp thạc sĩ đúng hoặc phù hợp với môn học giảng dạy trở lên; có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm (nếu không có bằng đại học sư phạm); đạt trình độ ngoại ngữ bậc 3 hoặc có chứng chỉ tiếng dân tộc đối với những vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc.

Đối với giáo chuẩn kỹ năng viên dạy ngoại ngữ thì trình độ ngoại ngữ thứ hai phải đạt bậc 3 theo quy định; có trình độ Tin học đạt sử dụng công nghệ thông tin cơ bản và có chứng chỉ bồi dưỡng GV THPT hạng I…

Như vậy, theo các thầy cô, nếu áp dụng cứng nhắc thì rất nhiều GV sẽ không đạt được tiêu chuẩn này, bởi sử dụng được ngoại ngữ phục vụ cho công việc còn là một thách thức lớn đối với ngay GV các bộ môn ngoài ngoại ngữ. Phần đông GV bày tỏ, những quy định trong Thông tư về Tin học, Ngoại ngữ vô tình đã tiếp tay cho tiêu cực, còn GV phải hao tổn một số tiền lớn cho những trung tâm “chứng chỉ” để bất cứ khi nào “cần sẽ có”.

Cần nhưng không để… cho có

 Trước đó, liên quan đến vấn đề đạt chuẩn và công nhận đạt chuẩn trong ngành Giáo dục, tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ tại kỳ họp Quốc hội diễn ra vào tháng 6 vừa qua, đại biểu Nguyễn Sỹ Cương (Ninh Thuận) đã từng đặt câu hỏi: “Chuẩn giả trong giáo dục, trường đạt chuẩn, GV đạt chuẩn nhưng thực tế không đạt. Các địa phương cho nợ chuẩn, Bộ có biết không? Giải pháp của vấn đề này là gì?”.

Và nhận định về  tiêu chí này, Hiệu trưởng một trường quốc tế tại TP HCM cho rằng, quy định không sai nhưng chưa thực tế: “Không hiểu Bộ yêu cầu kỹ năng ngoại ngữ làm gì, sử dụng như thế nào? Đừng làm cho toàn ngành đi học lấy chứng chỉ ngoại ngữ rồi vứt xó, tốn kém chi phí cho xã hội. Hiện nay các trường quốc tế hoặc có yếu tố nước ngoài không phải GV nào cũng sử dụng được ngoại ngữ chứ chưa nói đến các trường công lập. Ngay tại TP HCM, đa phần GV không thể sử dụng ngoại ngữ huống gì là các tỉnh, thành khác trên cả nước”. 

Đưa ra giải pháp, TS Nguyễn Tùng Lâm, Hiệu trưởng Trường THPT Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) cũng cho rằng, đây là chủ trương đúng đắn và phù hợp với thời đại, GV phổ thông sử dụng được tiếng Anh thì quá tốt để phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và cũng sẽ khơi gợi được phong trào học ngoại ngữ cho học sinh.

Tuy nhiên, thực tế, ngay cả nhiều GV ngoại ngữ cũng không đạt chuẩn. Vì thế đưa ra những yêu cầu về ngoại ngữ thì Nhà nước cần có sự hỗ trợ để GV nâng cao năng lực chứ không phải quy định đánh đố. Theo ông, điều quan trọng là làm từ gốc, tức là cần siết chặt đầu vào các trường sư phạm; tổ chức dạy, học, kiểm tra đánh giá nghiêm túc để đào tạo, cho ra trường những GV thật sự có chất lượng. Thay đổi cách thi tuyển viên chức GV sao cho thực chất, công bằng, hiệu quả.

Bên cạnh đó, để khuyến khích GV tự hoàn thiện mình thì đi kèm chuẩn mới cần có chế độ lương, thưởng tương xứng với các mức độ khác nhau theo bảng đánh giá GV. Nếu Bộ GD-ĐT ban hành các loại chuẩn cho GV, trong khi lương thì không đạt chuẩn để lo đủ cho đời sống của họ thì thật vô lý. Và theo nhiều chuyên gia giáo dục, dù cho có đặt tiêu chuẩn nào thì việc quan trọng nhất là phải trung thực, minh bạch trong khâu xếp loại, GV cũng phải nghiêm túc thực hiện theo đúng chương trình thật, thi thật, học thật. 

Nhiều người cũng băn khoăn, liệu chuẩn mới có thật sự chú ý đến chất lượng của người thầy vào đúng mục tiêu là dạy học, vì chuyên môn, vì học trò hay không? Hay chuẩn lại đặt nặng về mặt quản lý thì các cấp quản lý, hiệu trưởng lại có thêm các tiêu chí để làm khó GV?

Bởi thế, đông đảo thầy cô giáo mong mỏi, ở bộ chuẩn GV mới mà Bộ GD-ĐT áp dụng trong năm học này, cách đánh giá phải loại bỏ được sự cảm tính, chủ quan, tiêu cực, tránh nể nang, cào bằng. Và để việc đánh giá GV theo chuẩn thực sự hiệu quả và đáng tin cậy, một tổ chức kiểm định đánh giá GV độc lập, khách quan có thể là một giải pháp mà nhiều thầy cô mong đợi. 

Nguyễn Mỹ

Tin liên quan

Các tin khác