Cuộc trường chinh bi tráng của 3 vạn học sinh Vĩnh Linh

Thứ Tư, 30/5/2012 07:19 GMT+7

Để tồn tại, người Vĩnh Linh phải nai lưng trần xẻ lòng đất tìm sự sống. Họ phải chia gia đình, họ tộc ra nhiều hầm khác nhau để tránh họa diệt nòi, đưa con trẻ đi xa quê để được học hành. Một cuộc trường chinh bi tráng của hơn 3 vạn học sinh K8 Vĩnh Linh bắt nguồn từ đó.

Để tồn tại, người Vĩnh Linh phải nai lưng trần xẻ lòng đất tìm sự sống. Họ phải chia gia đình, họ tộc ra nhiều hầm khác nhau để tránh họa diệt nòi, đưa con trẻ đi xa quê để được học hành. Một cuộc trường chinh bi tráng của hơn 3 vạn học sinh K8 Vĩnh Linh bắt nguồn từ đó.
 
Hành trình bi tráng
 
Đầu năm 1965, không quân Mỹ bắt đầu oanh tạc khu vực Vĩnh Linh dữ dội. Những làng quê yên ả dưới lũy tre làng bỗng chốc bị bom đạn cày xới tan hoang. 
 
Để tồn tại, quân, người dân Vĩnh Linh đã đào hàng trăm địa đạo xuyên sâu vào lòng đất, nhưng hàng vạn con em của vùng đất lửa này không thể theo gót cha anh xuống ẩn nấp trong hầm sâu khi mà không khí, không gian không còn khá chật chội, cái chết rình rập khắp nơi như chỉ chực chờ lỗ thông hơi bị vùi lấp là cả ngàn con người mãi nằm im dưới lòng đất mẹ, đó là chưa kể đến chuyện yên ổn học hành để đánh giặc, xây dựng quê hương mai này... 
 
Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã quyết định đưa hơn 3 vạn thiếu nhi Vĩnh Linh 5-15 tuổi ra các tỉnh miền Bắc để gìn giữ sự sống cho các em, để gìn giữ lực lượng và nòi giống chuẩn bị cho một cuộc chiến trường kỳ và ác liệt không thể lường trước tổn thất.
 
Lúc bấy giờ, Trung ương đã lập ra một ban chuyên trách về chiến dịch gọi là Ban K8 do Bộ trưởng Phủ thủ tướng Trần Hữu Dực làm trưởng ban, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Lê Tất Đắc đặc trách chiến dịch. 
 
Trên hành trình của cuộc di dân này, tại các tỉnh từ Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Hà, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình... đều có ban chuyên trách riêng để tiếp nhận, giúp đỡ các em. 
 
Từ tháng 8/1966 đến cuối năm 1967, hơn 3 vạn học sinh Vĩnh Linh và các vùng Gio Linh, Cam Lộ đang sơ tán tại Vĩnh Linh được đưa ra các tỉnh miền Bắc, về sống nhờ trong các hộ gia đình, các trường học, được học hành cho đến năm 1973, khi Quảng Trị hoàn toàn giải phóng mới về lại quê hương.
 
Để bảo toàn được tính mạng các em, hơn hết đó là mệnh lệnh bảo tồn nòi giống xuất phát từ trái tim, có những người anh hùng đã quên mình ngã xuống bảo vệ mạng sống cho đoàn xe.
 
Nhớ lại những giây phút sinh tử đó, anh Nguyễn Cường, nguyên là một giáo viên đã nghỉ hưu, quê Vĩnh Linh xúc động: “Một đêm đầu đông mưa rét năm 1967, chuyến xe chở chúng tôi gồm 50 bạn cùng một đoàn xe gần 20 chiếc khi vừa qua khỏi đất Vĩnh Linh đến địa bàn Lệ Thủy (Quảng Bình) thì bị máy bay địch phát hiện, oanh tạc. Ngay lập tức có một đồng chí trên xe tên Thành hét lên ra lệnh: “Tất cả quay xe về trú tại vùng đồi Vĩnh Chấp - Sen Thủy, tôi sẽ nghi binh chúng”. 
 
Đoàn xe hối hả chở chúng tôi nhanh chóng quay đầu, còn anh Thành nhảy lên xe chỉ huy bật đèn pha nhằm hướng bắc Quảng Bình lao tới. Máy bay địch bám theo thả bom ồ ạt. Khi dừng lại thì chiếc xe của anh đã bị đạn xé gần như nát tươm, anh bị thương rất nặng. Nhờ đó, chúng tôi được bảo vệ an toàn. Và có lẽ cũng từ giờ phút chứng kiến sự dũng cảm của người chiến sĩ ấy, chúng tôi luôn tâm niệm phải làm một điều gì đó cho quê nhà”. 
 
Đi để được trở về
 
“Trên thực tế, việc đưa các em đi trên hành trình đầy gian khổ ấy hẳn không thể tránh khỏi thương vong. Kết thúc chiến dịch có 70 con em Vĩnh Linh ngã xuống, trong đó có 59 thiếu nhi. Đó là sự mất mát không hề nhỏ, nhưng vẫn phải đi vì nếu ở lại Vĩnh Linh con số hi sinh vì bom đạn sẽ nhiều hơn nữa. Chỉ có đi mới có ngày trở về”, ông Trần Đức Hạnh, 86 tuổi, nguyên Trưởng Ban K8 đặc khu Vĩnh Linh bộc bạch.
Giọt nước mắt hạnh phúc gặp lại người thân sau ngày im tiếng súng.
Giọt nước mắt hạnh phúc gặp lại người thân sau ngày im tiếng súng.
Không thể kể hết nỗi gian truân, vất vả của cuộc hành trình dài hàng trăm cây số kéo dài từ tháng này qua tháng khác mà những đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi chơi phải trải qua, lúc đi bộ hàng chục km, lúc lại chen trên phà, trên thuyền, nhồi nhét trên những chuyến ô tô dằn xóc, đội mưa rét để ra tận Thái Bình, Hà Nội. Mỗi giây phút trên chuyến hành trình bi tráng ấy các em luôn phải đối mặt với cái chết từ bom đạn giặc rình rập. 
 
Tiếp chúng tôi trong căn nhà ấm áp ở thành phố Đông Hà một ngày mưa tầm tã, anh Trần Văn Khỏe rưng rưng nhớ lại: “Chuyến xe hôm ấy cả thảy có 40 bạn, khi vừa chạy đến làng Mỹ Trung của tỉnh Quảng Bình thì bất ngờ bị địch phát hiện thả bom. Lúc tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trên giường bệnh xá, mặt mày được các bác sĩ băng bó trắng xóa. Sau này nghe các bác kể lại mới biết, chuyến đi ấy chỉ còn mình tôi sống sót”. 
 
Năm ấy cậu bé Trần Văn Khỏe vừa tròn 8 tuổi. Anh chưa hiểu gì về khái niệm “sơ tán”. Chỉ biết rằng, ngày đi mẹ giấu giọt nước mắt sau làn nón tả tơi, bảo “con cố gắng nghe lời các bác đi ra Bắc học hành cho tử tế để về phục vụ quê hương”. Rồi anh được mẹ khoác lên vai dải ruột tượng bằng vải xanh thẫm đựng gạo đã rang sẵn, một cái ống tre nút lá chuối đựng nước”. 
 
“Đận ấy, ở nhà bố mẹ nghĩ tôi đã mất cùng chuyến xe chở các bạn nên lập ban thờ cho tôi. Thật may, vài năm sau khi tôi không còn nhớ cụ thể quê mình ở đâu thì tình cờ gặp anh trai cũng đi trong chiến dịch đang đi nhận sách giáo khoa ngang qua nơi tôi ở, anh nhận ra và gọi tôi thật to. Giây phút ấy tôi nhảy lên vì sung sướng”, anh Khỏe cho biết thêm. 
 
Cô giáo Trần Thị Vui, quê ở Gio Linh, một học sinh K8 bồi hồi kể lại: Năm đó cô mới 10 tuổi, quê ở huyện Gio Linh (nam sông Bến Hải). Trên chuyến xe chạy dưới làn bom đạn năm ấy có thầy giáo Tuyên lo cho học sinh như một người cha. Ngày lên đường cô được thầy giáo bồng ẵm, dỗ dành mỗi khi nhớ mẹ nằm khóc. 
 
Nhưng rồi thay cho tiếng khóc là nỗi khiếp sợ khi cô chứng kiến một chiếc xe đi trước bị bom hất tung lên trời, từng người bạn của cô trên chuyến xe định mệnh đó vương vãi khắp nơi. 
 
Năm 1973, hòa bình lập lại, cô được trở lại quê nhà Gio Linh và làm nghề dạy học. “Thế hệ chúng tôi vì sự sống, vì con chữ đã phải nhọc nhằn, bây giờ còn sống ngày nào tôi nguyện đem hết sức mình chỉ bảo cho các em nên người”, cô Vui bộc bạch.
 
Từng đi qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt, thấm thía giá trị cuộc sống. Hầu hết thế hệ  K8 năm xưa giờ đang là những đảng viên, cán bộ chủ chốt, giáo viên giỏi của các trường học trên khắp mọi miền đất nước. 
 
Cô Trần Thị Nhượng, hiện là giáo viên ở Huế tâm sự: “Lớp chúng tôi giờ đây đã trở thành những ông, những bà tóc ngả màu tiêu muối nhưng câu chuyện về cuộc trường chinh vĩ đại những năm 60 vẫn được truyền lại cho lớp cháu con. Và trong số những “đứa trẻ K8” may mắn được trở về ấy, còn có những cô cậu lúc đi tuổi còn quá nhỏ, được cha mẹ nuôi “thay tên đổi họ”, rồi lửa đạn chiến tranh cũng cướp mất người thân ở quê nhà nên mãi đến gần 40 năm sau ngày hòa bình mới tìm lại được người thân, nơi chôn nhau cắt rốn, cảm động lắm".
 
Thanh Ba

Tin liên quan

Các tin khác