Cha con 'người Anh hùng' thầm lặng bên dòng sông Thạch Hãn

Thứ Sáu, 27/7/2018 06:25 GMT+7
(PLO) - Cuộc chiến 81 ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị là chiến công hào hùng, khúc ca bi tráng của dân tộc ta. Tại con sông Thạch Hãn huyền thoại đã ghi dấu nhiều đau thương, mất mát. Những tấm gương anh dũng quên mình rất nhiều, trong đó có nữ du kích Nguyễn Thị Thu (hiện 64 tuổi, ngụ số nhà 20 đường Đặng Dung, thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong) cùng bố chồng hàng ngày chèo đò vận chuyển người, lương thực cho cách mạng.
Cha con 'người Anh hùng' thầm lặng bên dòng sông Thạch Hãn
Xưa cùng cha chồng vượt “mưa bom, bão đạn” chở bộ đội qua sông, nay bà Thu và chồng lại nối nghiệp cha chồng theo nghề cào hến.

Tìm nhân vật trong bức ảnh 

Tới Thành cổ Quảng Trị đứng trang nghiêm cúi đầu tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã không tiếc máu xương hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, ghé thăm nhà bảo tàng ngắm những hình ảnh, hiện vật vô giá, người ta sẽ nhìn thấy một hình ảnh đặc biệt.

Đó là bức ảnh do phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính ghi lại một cụ già chèo đò với nụ cười hào sảng bên một thiếu nữ trẻ tay ôm chắc súng và hàng chục chiến sĩ bộ đội giải phóng tươi cười. Bức ảnh có tên “Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức Thành cổ”.  Xem ảnh, nhiều người không khỏi thắc mắc, sau những trận chiến ác liệt năm 1972 đó, những người trong hình giờ ai còn, ai mất?

Theo lời giới thiệu của nhân viên bảo tàng, người lái đò với nụ cười hào sảng trong bức ảnh là cụ Nguyễn Con (quê làng Giang Hến, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) và thiếu nữ tay ôm súng là Nguyễn Thị Thu (con dâu cụ Con).  

Bức ảnh cha con lão ngư dân Nguyễn Con chèo đò chở bộ đội qua sông do nhà báo Đoàn Công Tính chụp năm 1972.

Lần tìm qua rất nhiều đầu mối, mới hay bà Thu hiện vẫn sống tại làng Giang Hến, nay là tiểu khu 5, thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong. Nửa thế kỷ sau những trận chiến ác liệt đó, cô du kích lái đò trẻ tuổi năm nào nay đã là bà nội, bà ngoại.

Bà Thu rưng rưng ngắm lại bức ảnh kỷ niệm một thời oanh liệt nay đã ố vàng, thời mà bà ngược xuôi dòng Thạch Hãn đưa bộ đội sang sông vào Thành cổ. Năm đó bà mới 18 tuổi. Vừa vào du kích được khoảng ba tháng thì nhận được nhiệm vụ làm giao liên, cùng cha chồng (đã đám hỏi nhưng chưa cưới - PV) chèo đò chở bộ đội, vũ khí cùng lương thực vượt sông Thạch Hãn chi viện cho Thành cổ. 

Cuộc chiến diễn ra ác liệt, địch dốc toàn bộ lực lượng với vũ khí hiện đại hòng chiếm lại Thành cổ. Để đánh bật các cuộc phản công của địch, quân ta phải huy động bổ sung một lực lượng lớn. Và để bộ đội vào Thành cổ một cách nhanh nhất, an toàn mà lại hiệu quả chỉ có một đường duy nhất là dùng đò vượt sông Thạch Hãn. Thời gian đó, khúc sông đoạn từ xã Triệu Long, xã Triệu Giang, xã Triệu Thành đã trở thành tuyến đường huyết mạch đưa quân giải phóng vào chiến trường.  

“Bố chồng tôi làm nghề cào hến nên thông thuộc mọi chỗ nông sâu khúc sông này. Hai bố con tôi không ngại nguy hiểm nhận nhiệm vụ, khôn khéo chèo đò đưa bộ đội vượt sông. Ngày đó máy bay địch suốt ngày lượn mòng mòng trên đầu. Nước sông Thạch Hãn lúc nào cũng vàng ố, đục ngầu cuộn chảy vì bom đạn trút xuống như mưa. Suốt 81 ngày đêm, không biết bao nhiêu lần cha con chúng tôi suýt chết nhưng vẫn cầm chắc tay lái, băng trên con nước đưa bộ đội và vũ khí sang, rồi quay ngược đò chở thương binh về hậu phương”, bà Thu nhớ lại.

“Người anh hùng” thầm lặng

Trong căn nhà nhỏ, Huy chương Kháng chiến được treo trang trọng cùng những tấm hình ngày nào. Cũng trong căn nhà này bà đã chứng kiến biết bao cuộc hội ngộ thắm tình đồng đội của những chiến sĩ từng ngồi trên chiếc đò bà lái.

Sau chiến tranh, vợ chồng bà Thu không hề biết có tấm hình lịch sử. Đến những năm 1990, qua một người cùng làng, bà mới biết tấm hình được in lớn trên sách báo, được treo trang trọng trong Bảo tàng Thành cổ. Ban đầu bà Thu không lên tiếng nhân vật trong hình là mình. Sau này có người ngờ vực, bà mới lặng lẽ cắt một tấm hình trên báo, đóng khung rồi treo trang trọng ở trong nhà, như một lời xác nhận.

Mái chèo, chân vịt, mảnh ván của chiếc thuyền được trưng bày tại Bảo tàng Thành cổ.

Trong những chuyến đò ngày ấy, đã có rất nhiều chiến sĩ không bao giờ trở lại. Biết bao lần bà vừa chèo đò, lòng vừa quặn thắt, trào nước mắt, khi biết chuyện những người lính mười tám, đôi mươi bà vừa gặp hôm qua, hôm nay đã mãi nằm lại Thành cổ. Trời miền Trung giữa trưa hè nhưng bỗng ào ạt cơn mưa nặng hạt, o du kích ngày xưa gạt nước mắt, tạm ngừng câu chuyện, nhìn xa xăm ra phía dòng sông Thạch Hãn…

“Dù bom đạn, tôi vẫn chắc tay lái. Đò đi ngày không được thì đi đêm, trời nắng không chèo được thì tăng chuyến lúc mưa. Đau thương nhất là những lần chở thương binh về, có những người còn trẻ măng, thấy thương lắm. Có lần tôi chở một thương binh trắng trẻo thư sinh, nghe nói quê ở Hà Nội. Đò vừa cập bến cũng là lúc anh ấy chỉ kịp kêu lên một câu: “Đau quá mẹ ơi!” rồi trút hơi thở cuối cùng. Mãi mãi tôi không thể nào quên…”.  

Bà Thu không thống kê mình đã bao nhiêu lần chở bộ đội sang  sông trong 81 ngày đêm ấy. Bà chỉ nhớ trung bình mỗi ngày chiếc đò máy ấy cứ phăm phăm sóng nước 30 – 40 lần vượt sông đưa bộ đội vào trận tuyến, rồi cũng trên chiếc đò ấy không biết bao nhiêu tấn vũ khí, lương thực được tiếp tế cho Thành cổ. “Cả 81 ngày, tôi cùng cha không hề nghỉ chèo một ngày, không một đêm trọn giấc”, bà kể.

Và một bí mật khác, nửa thế kỷ bây giờ bà mới thổ lộ: “Thú thật, tuy ở gần sông nhưng tôi không hề biết bơi, điều này tôi phải giấu chỉ huy cũng như đồng đội. Vì nếu cấp trên biết tôi không biết bơi, tôi sẽ không được lái đò nữa”.

Không đòi hỏi, trách cứ

Giữa tháng 9/1972, trận chiến 81 ngày đêm kết thúc. Chiến thắng ở Thành cổ đã tạo đà lợi thế cho ta trên hội nghị đàm phán Hiệp định Pari năm 1973. Trong chiến thắng ấy có một phần đóng góp của hai cha con lão ngư dân Triệu Phong.

Cha con cụ Con không được phong người hùng, nhưng trong lòng rất nhiều bộ đội, trong lòng nhiều người địa phương, họ được coi là những Anh hùng. Đất nước thống nhất, lão ngư Nguyễn Con quay lại với công việc cào hến mưu sinh trên sông Thạch Hãn. Đến năm 1978, sau khi đi cào hến về, cụ Con đau bụng rồi đột ngột qua đời.

Nữ du kích Nguyễn Thị Thu bên những bằng khen, huy chương và bức ảnh kỷ niệm. 

Vợ chồng bà Thu trở lại cuộc sống đời thường, có bốn người con đều đã lập gia đình và có cuộc sống ổn định. Hiện tại chồng bà Thu lại theo nghiệp cha cào hến mưu sinh, còn vợ thì bán hến ở chợ. “Nghề hến phụ thuộc vào con nước, nhiều công đoạn, chủ yếu “lấy công làm lãi” nên thu nhập của hai vợ chồng khá bấp bênh. Vì vậy, ngoài công việc cào hến để mưu sinh, chúng tôi còn chăn nuôi gia súc, gia cầm để trang trải thêm cho cuộc sống”, bà Thu cho hay.

Câu chuyện nhiều lần bị ngắt quãng vì chứng đau đầu hành hạ bà Thu. Chồng bà Thu cho hay: “Nhiều đêm nằm ngủ bà ấy vẫn hay giật mình. Đôi lúc đang nói chuyện bà vang đau đầu, có lúc còn la hét inh ỏi. Có thể vì vợ tôi bị ám ảnh bởi cảnh bom đạn, chết chóc”.

Bà Thu cười lặng lẽ ngắt lời chồng: “Cuộc sống của chúng tôi tuy còn nhiều khó khăn nhưng vẫn không thể nào so sánh được với những hy sinh, mất mát của các chiến sỹ đã ngã xuống vì đất nước. Tôi vẫn sống được đến ngày hôm nay đã là một điều may mắn rồi”.

Sông Thạch Hãn, nơi biết bao người lính đã ngã xuống không về.

Trong không gian trầm lắng của chiều tháng Bảy bên dòng sông Thạch Hãn, chia tay khách, bà Thu nhẹ nhàng đọc lại những câu thơ trong một bài thơ nổi tiếng: “Đò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm”. 

Theo một số tài liệu lịch sử ghi lại: “Trong 81 ngày đêm, từ 28/6 - 16/9/1972, quân Mỹ và VNCH đã ném xuống Thành cổ Quảng Trị 328.000 tấn bom đạn, 9.552.000 viên đạn pháo 105 mm, 55.000 viên đạn pháo 155 mm, 8.164 viên đạn pháo 175 mm, hơn 615.000 viên đạn hải pháo, 2.240 lần oanh tạc của không quân. Tổng số bom đạn trong 81 ngày đêm bằng sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945. Có ngày số bom Mỹ ném ở Quảng Trị vượt xa số bom Mỹ ném trên toàn miền Nam trong các năm 1968 – 1969”.
Lê Tám Bảy

Tin liên quan

Các tin khác