Ngũ giới tam quy và Lý triều Quốc sư Thánh tổ kệ dẫn (Tiếp theo và hết)

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) - Trong cuốn Quốc âm sa di thập giới, phần lời tựa, thiền sư Như Trừng viết: “Nước Nam ta từ xưa đến nay, người xuất gia đều thọ tam quy ngũ giới”. Như vậy, khi Nguyễn Du viết Kiều: “Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia” là hoàn toàn phù hợp với kiến thức Phật học tại thời điểm lúc bấy giờ.
Chùa Keo Thái Bình. Chùa Keo Thái Bình.

Ngũ giới tam quy và Lý triều Quốc sư Thánh tổ kệ dẫn

Câu thơ Kiều gây tranh cãi

Liên quan đến chuyện tam quy ngũ giới, quả là một nhân duyên thú vị và may mắn khi chúng ta phát hiện việc Nguyễn Du trong khi ở Thái Bình đã có thời gian hiệu đính (duyệt chính) bản Lý triều quốc sư thánh tổ kệ dẫn. Đây là bản diễn Nôm theo thể thơ lục bát, bản in tàng bản thuộc chùa Keo, Thái Bình, nói về cuộc đời của vị Đại pháp sư Không Lộ và Minh Không. 

Có một điểm thú vị liên quan đến câu thơ Kiều gây tranh cãi trong giới Phật giáo từ trước đến nay. Vị trí thức Phật giáo đầu tiên cho rằng Nguyễn Du không hiểu gì về Phật giáo khi phát biểu “Tam quy ngũ giới cho nàng xuất gia” là Võ Đình Cường. Tiếp theo Võ Đình Cường là Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Ngay trong tác phẩm “Thả một bè lau”, khi nói về câu thơ: 

Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường.

Đưa nàng đến trước Phật đường,

Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia.

Áo xanh đổi lấy cà sa,

Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền.

Tác giả viết: “Ở đây nói có lễ xuất gia mà không cho biết ai là thầy truyền giới. Và thay vì Thọ Tam Quy và Thập Giới thì Kiều lại thọ Tam Quy và Ngũ Giới. Pháp danh Trạc Tuyền do ai đặt? Theo nguyên lục thì chẳng có thầy nào tới truyền giới cả. Chính cái pháp danh Trạc Tuyền cũng do Thúc sinh đặt. Trong Quan Âm Các, có thờ một tượng Đại Sĩ Quan Âm và trong chánh điện có một biển treo đề hai chữ Trạc Tuyền. Thúc Sinh mới đề nghị lấy hai chữ Trạc Tuyền làm pháp danh cho Kiều.

Văn Tế Thập loại chúng sinh và những bài thơ viết về đạo Bụt sau này chứng tỏ cụ Nguyễn Du có một kiến thức về đạo Bụt khá sâu sắc.

Nghe nói khi lìa đời cụ cũng tịch một cách êm ái. Khi sáng tác truyện Kiều, kiến thức Phật pháp của cụ còn chưa được sâu sắc lắm. Điều đó biểu hiện ở một vài nơi. Triết lý của truyện Kiều phối hợp vừa triết lý đạo Bụt, vừa triết lý Thiên Mệnh, đạo Khổng, đạo Lão; không được mạch lạc rõ ràng. Cụ Nguyễn Du cũng không biết muốn xuất gia thì phải thọ mười giới chứ không phải năm giới. Thọ năm giới cũng phải có thầy truyền giới.”

Chúng tôi cho rằng, sở dĩ học giả Võ Đình Cường và thiền sư Thích Nhất Hạnh đã phát biểu như vậy là bởi chưa được đọc Lý triều quốc sư thánh tổ kệ dẫn, tác phẩm hát kể hạnh do chính Nguyễn Du hiệu đính này.

Bản kệ có câu: 

 “Canh cánh quyết chí tu hành

Tìm nơi cảnh vắng am thanh trụ trì

Giữ gìn ngũ giới tam quy

Chức là Pháp tự vâng ghi lời thầy

Mùi thiền càng nếm càng say

Lại sang Hà Trạch đêm ngày quy tăng”

Như vậy, rõ ràng Nguyễn Du đã có dịp tiếp cận với những dữ liệu về Lý triều quốc sư cùng con đường tu hành đạt đạo của ngài. Nguyễn Du đã có thời  gian sống đến 10  năm (khoảng thời gian từ 1786 – 1795) ở Thái Bình (quê vợ). Theo chúng tôi, có thể cụ bắt đầu tiếp xúc và học Phật vào khoảng thời gian này. Đây cũng là thời gian ra đời những câu thơ như:

Hà năng lạc phát quy lâm khứ,

Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân.

Dịch: "Làm sao xuống tóc về rừng ẩn,/ Nằm nghe tùng hát gió đưa mây." (Bài Tự thán II)

Trong tập "Bắc hành tạp lục" với bài thơ "Vọng Quan Âm miếu" cũng ra đời trong khoảng thời gian này có những câu: 

Ðình vân xứ xứ tăng miên định,

Lạc nhật sơn sơn viên khiếu ai.

Nhất chú đàn hương tiêu tuệ nghiệp,

Hồi đầu dĩ cách vạn trùng nhai.

Dịch:

Mây giăng khắp chốn sư an giấc,

Chiều xuống núi đồi vượn kêu ai;

Ðốt nén hương đàn tiêu nghiệp tuệ,

Quay đầu đã cách vạn trùng nhai.

Cụ Nguyễn đã thấm nhầm Phật giáo

Chúng tôi cũng cho rằng, thời gian “10 năm gió bụi” (1786 – 1795) chính là khoảng thời gian Nguyễn Du đã tham gia vào duyệt chính bản kệ Nôm theo lối kể hạnh nổi tiếng của Phật giáo Thái Bình lúc bấy giờ. 

Ngôi nhà Nguyễn Du sống chính là ngôi nhà của Đoàn Nguyễn Tuấn, anh vợ của Nguyễn Du. Điều thú vị là chùa La Vân thờ Không Lộ/Minh Không, một  danh lam rất nổi tiếng chỉ cách nơi Nguyễn Du sống vài km. 

Một ngôi chùa nổi tiếng khác ở Thái Bình mà Nguyễn Du đã từng đến là chùa Keo, được xây dựng dưới thời Lê với kiến trúc quá quy mô xứng tầm bậc nhất trời Nam bấy giờ cũng là nơi thờ Không Lộ Minh Không. Hiện ở chùa Keo Thái Bình còn tấm bia ghi ghi rất rõ nhân vật Nguyễn Quyện - ông tổ nhiều đời của dòng họ Tiên Điền do mộng thấy Đại pháp sư mách bảo mà quyên góp xây dựng. Ngôi chùa nổi tiếng thời Lê mang dấu ấn của tiền nhân trong gia tộc mình là Nguyễn Quyện chắc chắn mà một người con cháu như Nguyễn Du không thể không biết đến. Nguyễn Quyện là anh Nguyễn Miễn. Nguyễn Miễn là cha của Nguyễn Nhiệm. Nguyễn Nhiệm là người đi vào Miền Trung và lập nên dòng họ Tiên Điền đầu tiên ở Hà Tĩnh. 

Văn bia hiện còn ở chùa Keo Thái Bình cho biết chùa này được khởi công xây dựng từ năm 1632. Tuy nhiên, văn bia ghi Trùng tu thần Quang tự bi ký lại có niên đại 1609 do tướng quân Nguyễn Quyện đứng ra tu tạo. 

Do vậy, có thể nói, không phải tình cờ mà Nguyễn Du để tâm duyệt chính bản kệ dẫn trong khi chính nơi đây vị tổ dòng họ Tiên Điền là Nguyễn Quyện là người từng đứng ra trùng tu chùa Keo này. Đó chính là nhân duyên từ cha ông của dòng họ Nguyễn Tiên Điền với thánh.

Trong cuốn sách này, chúng tôi cũng chia sẻ với bạn đọc những đối chiếu từ bản Lý triều quốc sư thánh tổ kệ dẫn với Truyện Kiều để thấy những nét tương đồng. Cách sử dụng câu chữ, ý và tứ của lời kệ đều có thể tìm thấy trong Truyện Kiều với lối diễn đạt tự nhiên và gần gũi.

 Ngã độc Kim Cương thiên biến linh

Kì trung áo chỉ đa bất minh

Cập đáo Phân kinh thạch đài hạ

Chung tri vô tự thị chân kinh

(trích: Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài)

Có thể nói, kiến thức Phật giáo của Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều đã rất chính xác sâu sắc. Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh và những bài thơ viết về đạo Bụt sau này như Phân kinh thạch đài chứng tỏ cụ Nguyễn Du đã thấm nhuần tư tưởng Phật giáo. Phải chăng, đó là bởi tâm thức Nguyễn Du đã được ươm mầm từ những nhân duyên trong 10 năm gió bụi.. và tác phẩm Lý triều quốc sư thánh tổ kệ dẫn cũng là một trong số những hạt mầm gieo vào mảnh vườn tâm của đại thi hào ngày ấy.

Thích Tâm Hiệp
Cùng chuyên mục
Bụt trong con sinh chưa?

Bụt trong con sinh chưa?

(PLVN) - Tháng Tư là mùa Bụt sinh, mùa sen nở. Trong tâm mỗi chúng ta đều có một đức Phật. Cũng giống như trong một cái đầm hay một cái ao, nếu biết gieo vào và ươm mầm, nhất định ta sẽ trồng được những đóa sen thơm.

Đọc thêm

Những ngọn gió ngát hương…

Những ngọn gió ngát hương…
(PLVN) - Như là đất, là nước, là ánh mặt trời, là lá hoa và những ngọn gió thơm hương... cứ tự tại, an nhiên và cần mẫn dâng hiến cho đời. Lặng lẽ, khiêm cung nhưng cũng đầy kiêu hãnh.

Đền Bạch Mã – Tứ linh xứ Nghệ

Quảng cảnh đền Bạch Mã.
(PLVN) - Bạch Mã là ngôi đền có vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh của nhân dân trên mảnh đất Nghệ Tĩnh. Ngôi đền này được xếp thứ 3 trong hàng ngũ "tứ linh": "Nhất Cờn, nhị Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng". 

Phật hiệu A Di Đà và Pháp môn Tịnh độ

Phật hiệu A Di Đà và Pháp môn Tịnh độ
(PLVN) - Sức lan tỏa của pháp môn Tịnh độ và hình ảnh Đức Phật A Di Đà đã đi vào tâm thức người Việt Nam cả trong cách chào hỏi. Niệm Nam mô A Di Đà Phật là đã nói thật nhiều, nói hết tất cả những ý nghĩa sâu xa của Phật đạo...

Thắp sáng lòng biết ơn

Thắp sáng lòng biết ơn
(PLVN) - Thắp sáng lòng biết ơn và ý thức về nguồn cội chính là làm cho tâm thức văn hóa của dân tộc trở thành nguồn mạch, thành dòng nhựa sống nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và hiếu hạnh dân tộc Việt.

Hạ về, sen nở mừng ngày Phật đản sinh

Hạ về, sen nở mừng ngày Phật đản sinh
(PLVN) - Ngày mùng 8 tháng 4 là ngày Bụt ra đời. Gần 3000 năm trước, từ bước chân của con người vĩ đại ấy, nhân loại được biết đến một sự thật lớn: “Tất cả chúng sinh đều có tính Bụt”.

Những nẻo đường hóa duyên

Những nẻo đường hóa duyên
(PLVN) - Không nhất thiết phải tới chùa mới có thể làm công quả, mới có thể thấy Phật. Càng không phải ở nơi những vị tu hành, mới thấy được bóng dáng của một Thiền sư.

Điển tích Chùa Bổ Đà có vườn tháp lớn nhất Việt Nam, lưu giữ bộ mộc bản kinh Phật cổ nhất

Một góc chùa Bổ Đà.
(PLVN) - Chùa Bổ Đà là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt. Chùa là quần thể lớn, tọa lạc tại thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang - danh lam cổ tự nổi tiếng của xứ Kinh Bắc xưa. Chùa Bổ Đà có điển tích huyền bí, cũng như có vườn tháp lớn nhất Việt Nam, lưu giữ bộ mộc bản kinh Phật cổ nhất.

Dấu xưa thời khẩn hoang lập ấp ở ngôi đình cổ nhất phương Nam

Ngôi đình với kiến trúc truyền thống độc đáo vẫn đứng vững theo thời gian.
(PLVN) - Đình Thông Tây Hội (phường 11, quận Gò Vấp, TP HCM) đã có từ hơn 3 thế kỷ trước, từ thuở những nhóm cư dân đầu tiên xuôi Nam vượt ngàn dặm đường đến vùng Gia Định mở đất. Trải qua bao biến thiên dâu bể, ngôi đình cổ nhất đất Nam Bộ này vẫn còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa - tín ngưỡng tốt đẹp của dân tộc và nghệ thuật kiến trúc truyền thống độc đáo.

Ngôi đền thiêng thờ vị thần “hộ dân bảo quốc” suốt 4000 năm lịch sử

Toàn cảnh đền Đồng Cổ.
(PLVN) - Đó là đền Đồng Cổ thờ thần Đồng Cổ - vị thần có công lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Ngôi đền tọa lạc tại làng Đan Nê (xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) tương truyền có từ thời Hùng Vương, soi bóng xuống hồ bán nguyệt, bên cạnh là núi Tam Thai có quán Triều Thiên trên đỉnh nhìn xuống toàn cảnh sông Mã.

Ngôi đền thiêng 1500 tuổi nơi phát tích bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà“

Đền Xà.
(PLVN) - Đền Xà thờ đức thánh Tam Giang, tọa lạc tại thôn Xà Đoài, xã Tam Giang (huyện Yên Phong, Bắc Ninh) có niên đại từ thế kỷ 6 đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1988. Ngôi đền thiêng cũng là nơi phát tích bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà” - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. 

Đình Quan Lạn – Ngôi đình thiêng 300 tuổi bên sóng nước Vân Đồn

Đình Quan Lạn đã có lịch sử hơn 300 năm.
(PLVN) - Đình Quan Lạn (xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) được xây dựng ở giữa làng, nhìn ra vịnh biển nơi có ba hòn đảo tạo nên bức bình phong, phía sau tựa vào năm ngọn núi... Các bậc tiền đã xây dựng ngôi đình Quan Lạn với lối kiến trúc độc đáo ghi dấu ấn văn hóa của người Việt trên vùng biển Đông Bắc. Điều đó không chỉ được thể hiện qua sự độc đáo của kiến trúc mà còn ngay trong lễ hội có một không hai của đình Quan Lạn. 

Ngôi đình 300 tuổi đẹp nhất xứ Kinh Bắc còn tồn tại đến ngày nay

Đình Bảng là một trong những ngôi đình làng đẹp nhất xứ Kinh Bắc.
(PLVN) - Trong suốt gần 300 năm, trải qua hàng loạt những biến cố của lịch sử dân tộc ngôi đình làng Đình Bảng (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) vẫn đứng vững. Đình làng Đình Bảng từ lâu đã được coi là một trong những ngôi đình đẹp nhất xứ Kinh Bắc và cả Việt Nam, bởi đây là một công trình kiến trúc cổ đồ sộ chứa đựng giá trị nghệ thuật trang trí gỗ truyền thống đặc sắc.