Ngũ giới tam quy và Lý triều Quốc sư Thánh tổ kệ dẫn

0:00 / 0:00
0:00
(PLVN) - Liên quan đến chuyện tam quy ngũ giới, quả là một nhân duyên thú vị và may mắn khi chúng ta phát hiện việc Nguyễn Du trong khi ở Thái Bình đã có thời gian hiệu đính (duyệt chính) bản Lý triều quốc sư Thánh tổ kệ dẫn.
Ngũ giới tam quy và Lý triều Quốc sư Thánh tổ kệ dẫn

Quy y Tam bảo

Đất Bắc, hơn 20 năm trên những nẻo đường hóa duyên, tôi đã đi và gặp bao nếp nhà, bao mái chùa, bao con người. Càng đi, càng hiểu, tôi lại càng thêm trân trọng những vốn văn hóa của tiền nhân hàng ngàn năm còn được lưu giữ. Sử liệu ghi dấu những sự kiện, những niên biểu, trong khi đó, nếp sống văn hóa mới là yếu tố căn cốt làm nên lịch sử của một dân tộc. Nếp sống ấy còn lại trong từng lời ăn nếp ở, trong dòng tâm thức của dân tộc. 

Buổi đầu ra Bắc, nghe các cụ nói đi quy (nghĩa là quy y Tam Bảo, Phật - Pháp - Tăng) mà không thọ năm giới giống như trong miền Trung và Nam tôi lấy làm lạ. Chính bởi lẽ đó, ngoài Bắc khi quy y, các thầy thường dùng Điệp quy y (còn gọi là phái quy y). 

Trong lần gặp gỡ và trò chuyện, tôi đã chia sẻ cùng thầy Thích Nhất Hạnh khi ngài về Việt Nam. Lúc đó Thầy đang tổ chức khóa tu tại chùa Bằng. Thầy dạy: “Không để điệp quy y, nên để là điệp hộ giới, bởi khi mình quy y tức là mình phát nguyện hộ trì năm giới. Điệp hộ giới như một lời nhắc nhở người đã phát nguyện nương theo ba sự quay về.”

Câu chuyện về quy y và năm giới bắt đầu với cái hiểu ấy và cũng từ đó về sau, mỗi khi gieo duyên quy y cho mọi người, tôi thường chỉ dùng điệp hộ giới như lời dặn của Thầy, thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Ngũ giới tam quy và Lý triều Quốc sư Thánh tổ kệ dẫn ảnh 1
 

Bài kệ của thiền sư Trí Bảo

Mãi cho tới những năm gần đây, do yêu cầu của nghiên cứu, việc điền dã khắp các vùng xứ Đoài và trấn Sơn Nam Hạ giúp tôi có dịp gần gũi nhiều hơn để tham vấn và chia sẻ những phát kiến của mình với thiền sư Lê Mạnh Thát. Các văn bia ghi lại công hạnh các vị thiền sư, rất nhiều nơi, trên bia ghi đầy đủ thông tin của những vị thiền sư tu hành đạt đạo nhưng có thê (vợ), và những bia ghi hòa thượng nhưng là: sa di hòa thượng. 

Thiền uyển tập anh, cuốn sách được cho là chính sử của phật giáo có chép câu chuyện và bài kệ của thiền sư Trí bảo như sau: 

Thiền sư Trí Bảo, (?-1190) Chùa Thanh Tước, núi Du hý, làng Cát lợi hy, Thường lạc. Người Ô diên Vĩnh Khương, họ Nguyễn, nguyên là cậu của Thái úy Tô Hiến Thành, triều vua Anh Tôn nhà Lý. Có thể nói, thiền sư là thế hệ kế cận sau giai đoạn của thiền sư Minh Không/Không Lộ (8/1141). Sách Thiền uyển tập anh chép câu chuyện về thiền sư như sau:

Một hôm Sư thăng đường, Tăng tục đông nghẹt, có người hỏi: "Thế nào là tri túc?" Sư đáp: "Người xuất gia [32a1] tại gia đều dừng lại ở tri túc. Nếu tri túc thì ngoài chẳng lấn người, trong không tổn mình. Vật nhỏ nhặt như lá rau ngọn cỏ, người không cho, mình chẳng nên lấy. Huống gì những vật khác thuộc của người. Hãy dấy lên cái ý tưởng đó là vật của người thì mình rút cuộc không vì chúng mà sinh lòng trộm cắp. Cho đến thê thiếp của người, hãy dấy lên cái ý tưởng đó là thê thiếp của người, thì mình cũng không vì thế mà sinh lòng dâm.

Các người nghe ta nói kệ:

"Bồ Tát của mình biết đủ thôi,

Của người chẳng muốn chỉ thương yêu .

Lá rau không biếu, ta không lấy,

Không tưởng của người, đức ngọc treo,

Bồ tát vợ mình biết đủ thôi.

Sao còn ham muốn vợ con người,

Thiếp thê ai nấy lo gìn giữ,

Sao nỡ lòng mình nghĩ lả lơi"

Bài kệ của thiền sư dựa trên ý từ kinh Hoa Nghiêm. 

Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh 35 tờ 185a25-b2, Chương Ly cấu của phẩm Thập địa viết:

"Bồ tát ư tự tư tài, thường tri chỉ túc, ư tha từ thứ, bất dục xâm tổn. Nhược vật thuộc tha, khởi tha vật tưởng, chung bất ư thử, nhi sanh đạo tâm. Nãi trí thảo diệp, bất dự bất thủ, hà huống kỳ dư, tư sinh chi cụ. Tính bất tà dâm. Bồ tát ư tự thê tri túc, bất cần tha thê. Ư tha thê thiếp tha sở hộ nữ, thân tộc môi định, cập vi pháp sở hộ, thượng bất sinh ư tham nhim chi tâm, hà huống tùng sự, huống ư phi đạo".

Dịch: Bồ tát đối với của cải mình, biết vừa đủ, đối với của người, thì thương yêu tha thứ, không muốn lấn hại. Nếu vật thuộc của người mình dấy lên cái ý tưởng là vật của người thì rốt cuộc không sinh lòng trộm cắp. Cho đến ngọn cỏ, lá cây, người không cho, mình không lấy, huống nữa là những vật dùng cho đời sống khác. Bồ tát biết đủ đối với vợ mình, mà không vợ người. Đối với thê thiếp của người, con gái do người bảo hộ, mình còn không móng lòng tham nhim, huống nữa là tùng sự dâm dục, huống nữa là nơi phi đạo.

Cần hiểu các giới ngày xưa nêu Bồ tát biết đủ đối với vợ mình có nghĩa giới thứ 4: Không tà dâm có nghĩa là không có lòng tham với vợ người, không tùng sự dâm dục và nơi phi đạo.

Người xuất gia thọ tam quy ngũ giới

Xuôi dòng lịch sử về triều đại nhà Lý cùng với các vị thiền sư Không Lộ, Minh Không, Đạo Hạnh, đây là thời kỳ đạo Phật được cho là quốc đạo. Các vị thiền sư vừa là quốc sư giúp vua giữ yên triều chính, lo việc nước, vừa tu hành liễu ngộ. Chư vị thiền sư thời kỳ này đã dùng các phương tiện thiện xảo để khéo léo đưa Đạo Phật lan tỏa và thấm sâu vào lòng dân tộc. Tinh thần nhập thế và tư tưởng “Cư trần lạc đạo” không phải đến Trần Nhân Tông mới khởi xướng mà đã được hình thành ngay từ giai đoạn này. Các vị thiền sư hoàn toàn có thể “lạc đạo” khi còn “cư trần”. 

Thiền học thời kỳ này chịu ảnh hưởng từ phái thiền học của Lục tổ Huệ Năng với Pháp Bảo đàn kinh nổi tiếng và chú trọng đến phương pháp Đốn Ngộ (giác ngộ đột ngột). Trong khi đó, giác ngộ từ từ, tiệm ngộ, được đạt tới một cách cố ý, dần dần, tuần tự, từng giai đoạn một, và cần đến một sự cố gắng tập luyện lâu dài và liên tục. Chính vì có những sự giác ngộ bất ngờ chỉ nhờ một cái nhìn, một công án, một bài kệ,... 

Phân tích sơ lược như vậy để thấy, ngay từ thời Lý, các vị xuất gia chỉ thọ ngũ giới tam quy, bên cạnh phương pháp Đốn ngộ là một điển hình. Toàn bộ đời Lê các tháp các vị tổ sư đến nay vẫn còn đều ghi Sa di Hòa thượng. Khác biệt đó so với ngày nay là một điều bình thường trong tiến trình lịch sử. Không có nghĩa là các vị ngày xưa không phải những bậc chân tu. Ngược lại, chúng ta đã có một thời đại được cho là thuần từ và tươi đẹp nhất trong lịch sử khi đạo Phật được xem là quốc đạo và số lượng các vị thiền sư liễu ngộ trong tu hành, có công giúp nước giúp dân rất lớn. 

Trong cuốn Quốc âm sa di thập giới, phần lời tựa, thiền sư Như Trừng viết: “Nước Nam ta từ xưa đến nay, người xuất gia đều thọ tam quy ngũ giới”. Như vậy, khi Nguyễn Du viết Kiều: “Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia.” Là hoàn toàn phù hợp với kiến thức Phật học tại thời điểm lúc bấy giờ..

Dẫn ra những chi tiết trên để hiểu vì sao ở những làng quê Bắc bộ thường có câu: trẻ vui nhà, già vui chùa và Quy y đơn thuần như các cụ vẫn gọi là đi quy, quy Phật chứ không bao gồm có thọ năm giới. Đó chính là tâm thức thấm sâu từ thuở xa xưa của cha ông để lại. Người ta sinh ra đã là con Phật con Trời. Về già thì họ Quy y theo Phật để vui nơi cửa chùa với câu niệm A di đà mà nương theo sự gia hộ của chư Phật để cầu sinh về Tây Phương. Quy y đơn thuần là quay về nương tựa ba ngôi Tam Bảo (Phật – Pháp – Tăng), còn việc thọ năm giới là thuộc về người xuất gia. Ai xuất gia thì mới cần thọ Tam quy – ngũ giới. 

(còn nữa)

Thích Tâm Hiệp
Cùng chuyên mục

Đọc thêm

Phật hiệu A Di Đà và Pháp môn Tịnh độ

Phật hiệu A Di Đà và Pháp môn Tịnh độ
(PLVN) - Sức lan tỏa của pháp môn Tịnh độ và hình ảnh Đức Phật A Di Đà đã đi vào tâm thức người Việt Nam cả trong cách chào hỏi. Niệm Nam mô A Di Đà Phật là đã nói thật nhiều, nói hết tất cả những ý nghĩa sâu xa của Phật đạo...

Thắp sáng lòng biết ơn

Thắp sáng lòng biết ơn
(PLVN) - Thắp sáng lòng biết ơn và ý thức về nguồn cội chính là làm cho tâm thức văn hóa của dân tộc trở thành nguồn mạch, thành dòng nhựa sống nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và hiếu hạnh dân tộc Việt.

Hạ về, sen nở mừng ngày Phật đản sinh

Hạ về, sen nở mừng ngày Phật đản sinh
(PLVN) - Ngày mùng 8 tháng 4 là ngày Bụt ra đời. Gần 3000 năm trước, từ bước chân của con người vĩ đại ấy, nhân loại được biết đến một sự thật lớn: “Tất cả chúng sinh đều có tính Bụt”.

Những nẻo đường hóa duyên

Những nẻo đường hóa duyên
(PLVN) - Không nhất thiết phải tới chùa mới có thể làm công quả, mới có thể thấy Phật. Càng không phải ở nơi những vị tu hành, mới thấy được bóng dáng của một Thiền sư.

Ngũ giới tam quy và Lý triều Quốc sư Thánh tổ kệ dẫn (Tiếp theo và hết)

Chùa Keo Thái Bình.
(PLVN) - Trong cuốn Quốc âm sa di thập giới, phần lời tựa, thiền sư Như Trừng viết: “Nước Nam ta từ xưa đến nay, người xuất gia đều thọ tam quy ngũ giới”. Như vậy, khi Nguyễn Du viết Kiều: “Tam qui, ngũ giới, cho nàng xuất gia” là hoàn toàn phù hợp với kiến thức Phật học tại thời điểm lúc bấy giờ.

Điển tích Chùa Bổ Đà có vườn tháp lớn nhất Việt Nam, lưu giữ bộ mộc bản kinh Phật cổ nhất

Một góc chùa Bổ Đà.
(PLVN) - Chùa Bổ Đà là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt. Chùa là quần thể lớn, tọa lạc tại thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang - danh lam cổ tự nổi tiếng của xứ Kinh Bắc xưa. Chùa Bổ Đà có điển tích huyền bí, cũng như có vườn tháp lớn nhất Việt Nam, lưu giữ bộ mộc bản kinh Phật cổ nhất.

Dấu xưa thời khẩn hoang lập ấp ở ngôi đình cổ nhất phương Nam

Ngôi đình với kiến trúc truyền thống độc đáo vẫn đứng vững theo thời gian.
(PLVN) - Đình Thông Tây Hội (phường 11, quận Gò Vấp, TP HCM) đã có từ hơn 3 thế kỷ trước, từ thuở những nhóm cư dân đầu tiên xuôi Nam vượt ngàn dặm đường đến vùng Gia Định mở đất. Trải qua bao biến thiên dâu bể, ngôi đình cổ nhất đất Nam Bộ này vẫn còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa - tín ngưỡng tốt đẹp của dân tộc và nghệ thuật kiến trúc truyền thống độc đáo.

Ngôi đền thiêng thờ vị thần “hộ dân bảo quốc” suốt 4000 năm lịch sử

Toàn cảnh đền Đồng Cổ.
(PLVN) - Đó là đền Đồng Cổ thờ thần Đồng Cổ - vị thần có công lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Ngôi đền tọa lạc tại làng Đan Nê (xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) tương truyền có từ thời Hùng Vương, soi bóng xuống hồ bán nguyệt, bên cạnh là núi Tam Thai có quán Triều Thiên trên đỉnh nhìn xuống toàn cảnh sông Mã.

Ngôi đền thiêng 1500 tuổi nơi phát tích bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà“

Đền Xà.
(PLVN) - Đền Xà thờ đức thánh Tam Giang, tọa lạc tại thôn Xà Đoài, xã Tam Giang (huyện Yên Phong, Bắc Ninh) có niên đại từ thế kỷ 6 đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1988. Ngôi đền thiêng cũng là nơi phát tích bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà” - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. 

Đình Quan Lạn – Ngôi đình thiêng 300 tuổi bên sóng nước Vân Đồn

Đình Quan Lạn đã có lịch sử hơn 300 năm.
(PLVN) - Đình Quan Lạn (xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) được xây dựng ở giữa làng, nhìn ra vịnh biển nơi có ba hòn đảo tạo nên bức bình phong, phía sau tựa vào năm ngọn núi... Các bậc tiền đã xây dựng ngôi đình Quan Lạn với lối kiến trúc độc đáo ghi dấu ấn văn hóa của người Việt trên vùng biển Đông Bắc. Điều đó không chỉ được thể hiện qua sự độc đáo của kiến trúc mà còn ngay trong lễ hội có một không hai của đình Quan Lạn. 

Ngôi đình 300 tuổi đẹp nhất xứ Kinh Bắc còn tồn tại đến ngày nay

Đình Bảng là một trong những ngôi đình làng đẹp nhất xứ Kinh Bắc.
(PLVN) - Trong suốt gần 300 năm, trải qua hàng loạt những biến cố của lịch sử dân tộc ngôi đình làng Đình Bảng (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) vẫn đứng vững. Đình làng Đình Bảng từ lâu đã được coi là một trong những ngôi đình đẹp nhất xứ Kinh Bắc và cả Việt Nam, bởi đây là một công trình kiến trúc cổ đồ sộ chứa đựng giá trị nghệ thuật trang trí gỗ truyền thống đặc sắc. 

Cổ tự trăm tuổi với tập tục “đánh kẻ tiểu nhân” ở Sài Gòn

 Hội quán Ôn Lăng được cộng đồng người Hoa xây dựng năm 1740.
(PLVN) - Được xây dựng từ gần 300 năm trước, Hội Quán Ôn Lăng (đường Lão Tử, phường 11, quận 5) là điểm đến linh thiêng trong cộng đồng người Hoa ở TP HCM. Nơi đây nhiều năm qua được biết đến với tập tục có một không hai - “đánh kẻ tiểu nhân”, mang ý nghĩa cầu may mắn, bình an đồng thời xua đuổi những điều xui xẻo, những “kẻ tiểu nhân” đi theo quấy rối mình.

Bí ẩn xung quanh hai pho tượng trong ngôi chùa Cầu Đông

Tượng thờ Thái sư Trần Thủ Đô và vợ Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung.
(PLVN) - Theo tài liệu nghiên cứu về 1000 năm Thăng Long do nhà văn Tô Hoài và nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc chủ biên thì chùa Cầu Đông là chùa duy nhất ở Hà Nội hiện nay thờ vợ chồng Thái sư Trần Thủ Độ. Tuy nhiên, nguồn gốc và lịch sử về hai pho tượng này đến giờ vẫn là một bí ẩn. 

Tìm hiểu Luân hồi và Nhân quả trong đạo Bụt

Luân hồi đơn giản là sự tiếp nối, không ngừng nghỉ của vạn vật trong vũ trụ.
(PLVN) - Khái niệm, hiện tượng về kiếp Luân hồi và Nhân quả trở thành nỗi trăn trở, ám ảnh ngàn đời của các thế hệ con người. Có hay không việc "đời cha ăn mặn, đời con khát nước", kiếp trước ăn ở bạc ác, kiếp sau phải chịu nghiệp báo. Liệu người chết ở kiếp trước rồi sau này đầu thai vào những kiếp sau không? Đạo Phật giải thích về vấn đề này như thế nào?