Âm mưu đế quốc Mỹ và thất bại của chương trình 'phòng vệ xóm làng'

Thứ Bảy, 28/4/2018 06:58 GMT+7
(PLO) - Theo người Mỹ, vào đầu năm 1961, “tình hình ở nông thôn miền Nam Việt Nam ngày càng căng thẳng”. Nhằm tìm ra những ý tưởng mới, Mỹ đã tung người của Cơ quan Tình báo CIA vào một loạt các chương trình nhằm đương đầu với tình thế một cách cụ thể hơn, thay vì chỉ đơn giản làm cái công việc báo cáo lại những gì đã xảy ra theo như thường lệ. 
Âm mưu đế quốc Mỹ và thất bại của chương trình 'phòng vệ xóm làng'
Lính biệt kích được Mỹ đào tạo huấn luyện tại Tây Nguyên.

Chương trình “Phòng vệ xóm làng” (Village Defense Program – VDP) được sở CIA Sài Gòn nghiên cứu và cho thực hiện thí điểm ở Buôn Ea Nao, tỉnh Đắk Lắk bắt đầu từ tháng 10/1961 là một ví dụ. PLVN xin lược trích bài nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Lan về vấn đề này.

Đội lốt “chương trình cải tiến dân sinh”

Để chuẩn bị cho VDP, từ giữa năm 1961, CIA ở Sài Gòn đã tìm cách móc nối với các cơ sở ở Tây Nguyên. Một trong những đầu mối tiếp xúc là một thanh niên người Mỹ. David A. Nuttle làm việc cho cơ quan tình nguyện quốc tế (International Voluntary Services), tổ chức từ thiện tư nhân, tiền thân của đội hòa bình (Peace Corps) của Tổng thống J. Kennedy. Nuttle đã sống, làm việc giữa một buôn làng Ê Đê và nhanh chóng nhận thấy “chính quyền và quân đội Sài Gòn rất ít quan tâm đến dân miền núi”, lo ngại rằng “những người dân ấy rất dễ bị đối phương gây ép hay lôi kéo”. Nuttle đã thuyết phục W. Colby, lãnh đạo Sở CIA Sài Gòn: “Người Ê Đê có thể tự bảo vệ mình nếu như họ được tổ chức và trang bị vũ khí”. 

Colby cho “ý tưởng đó có lý” và nhận định: Thứ nhất, với một lực lượng võ trang bao gồm sắc dân thiểu số sẽ làm cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tăng thêm khả năng chống xâm nhập của Quân Giải phóng (QGP) vào những khu vực hẻo lánh; Thứ hai, nhóm sắc dân thiểu số đông đảo nhất là người Thượng, họ bị chính quyền VNCH “không màng đến”, nên rất dễ bị đối phương tuyên truyền và tuyển mộ. Hơn nữa, sự kiểm soát của QGP trên vùng Cao Nguyên cũng là một điều đáng lưu ý. Colby và CIA tin rằng, “những người dân miền núi có thể tự bảo vệ được thì điều đó sẽ tước đi mất của đối phương những căn cứ và sự ủng hộ mà đối phương rất cần và hy vọng vào đó có thể đứng chân trên vùng núi”.

Colby đồng ý xây dựng một chương trình nhằm giúp đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có khả năng “tự bảo vệ” bằng các trang bị vũ khí, phương tiện truyền tin, bố phòng buôn làng, huấn luyện quân sự, thành lập lực lượng biệt kích và nhân dân chiến đấu.

Một kế hoạch như thế cần phải được đề cập một cách cẩn trọng để không gây nên bất kỳ một sự nghi ngờ nào hay một sự chống đối dù nhỏ nhất của các quan chức VNCH. Đó là lý do giải thích tại sao Colby và các đồng nghiệp không áp dụng kế hoạch này bằng con đường thông thường, tức là thông qua chính quyền Ngô Đình Diệm, cũng không đưa vào chương trình AID (American Internatinal Development. Tổ chức phát triển quốc tế Mỹ), mà thực hiện chương trình một cách cẩn thận và theo “cách làm việc riêng của CIA”.

Tháng 10/1961, một phái đoàn gồm David A Nuttle, Trung sĩ Paul F. Campbell (quân y) cùng một số thành viên lực lượng đặc biệt Mỹ (giúp cho việc cố vấn và huấn luyện bán quân sự) đến Buôn Ea Nao, tỉnh Đắk Lắk.

Về phía chính quyền tỉnh, báo cáo của Tỉnh trưởng, Thiếu tá Nguyễn Văn Bảng gửi Bộ Nội vụ VNCH đầu năm 1962 như sau: “Khoảng hạ tuần tháng 10/1961, phái đoàn của cơ quan liên lạc Phủ Tổng thống đã hướng dẫn một số cố vấn Mỹ tới gặp để thảo luận về vấn đề huấn luyện và thành lập một lực lượng biệt kích nhân dân người Thượng”. Như vậy, rõ ràng mục đích cốt yếu của chương trình là nhằm huấn luyện võ trang đồng bào các dân tộc thiểu số, để họ trở thành lực lượng biệt kích, nhân dân chiến đấu chống phá cách mạng trên địa bàn miền núi Tây Nguyên. 

Tuy nhiên, âm mưu đó không thể công khai, do vậy mà phải được che đậy bởi các hoạt động y tế, giáo dục, cải tiến canh nông. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Bảng đã nói rõ biện pháp thực hiện chương trình này trong báo cáo: “Buôn Ea Nao tọa độ AQ 838.050 được chọn làm địa điểm để thực hiện công tác dưới hình thức che giấu khởi thủy là thực hiện một chương trình cải tiến dân sinh, nặng về vấn đề y tế hương thôn”. Ngày 1/10/1961, chương trình  được thực hiện thí điểm tại Buôn Ea Nao, một buôn của người Ê Đê ở cách trung tâm Buôn Ma Thuột khoảng 10km theo hướng Đông Bắc, gần trục Đường 21 (nay là QL 26).

Âm mưu thâm độc

Trong một tài liệu, Trung sỹ Campbell kể lại lần đầu tiên gặp gỡ những vị già làng trong Buôn Ea Nao: “Tôi giải thích cho họ rằng, chương trình nhằm cải thiện đời sống, việc làm rẫy, trồng tỉa, y tế. Sau đó, chúng tôi tổ chức huấn luyện và chỉ dẫn việc bảo vệ xóm làng, không cho người lạ vào trong làng, ngăn ngừa VNCH. Công việc này nhằm tạo tính “tự lập, tự cường”, những người dân làng sẽ có khả năng đứng lên bảo vệ xóm làng của mình.

Sau hai tuần lễ “thương thuyết”, và đặc biệt Trung sỹ quân y Campbell biểu diễn tài chữa bệnh cho dân làng rất thành công, những vị già làng ưng thuận và tuyên thệ trung thành với công việc tổ chức phòng vệ xóm làng. Buôn Ea Nao đã làm một hàng rào hai lớp bằng gỗ và tre xung quanh làng, đào hầm trú ẩn cho người già, đàn bà và trẻ con, xây dựng công sự chiến đấu, bố phòng chông nhọn ở những nơi không có người qua lại. Họ xây cất một khu huấn luyện (Trung tâm huấn luyện Ea Nao), một bệnh xá và tổ chức đường dây lấy tin tức và báo động về sở chỉ huy khi bị tấn công. Họ nhanh chóng học được cách sử dụng những vũ khí được trang bị và đặc biệt thích thú với chiếc máy bộ đàm”.

Khoảng một tháng sau, buôn Ea Nao được rào kiên cố, CIA gửi lên một số vũ khí, Sở Liên lạc Phủ Tổng thống đưa lên một số cán bộ quân sự người Thượng và số cố vấn Mỹ tăng từ hai lên bốn người. 

Đến giữa tháng 12/1961, “thí nghiệm Buôn Ea Nao” hoàn thành, tỉnh trưởng Đắk Lắk cho phép phát triển ra thêm 40 buôn làng Ê Đê khác trong khu vực đường bán kính 15km từ tâm điểm Buôn Ea Nao và “ép buộc” các vị già làng, chủ làng, chủ đất phải thụ huấn quân sự. Theo tài liệu “Lực lượng đặc biệt Mỹ 1961 – 1971” của Ban Nghiên cứu quân đội Hoa Kỳ, kết quả của chương trình ở 40 buôn làng Ê Đê từ tháng 12/1961 - 4/1962 như sau: Dân số trong các buôn làng được tổ chức phòng vệ là 14.000 người; số dân được trang bị và huấn luyện võ trang trở thành lực lượng biệt kích (Strike Forces) là 300 người và lực lượng nhân dân chiến đấu (Villagers) là 900 người.

Nói về vai trò của lực lượng biệt kích (xung kích và nhân dân chiến đấu) trong chương trình, Phiếu trình Tổng thống của Tỉnh trưởng Đắk Lắk cuối năm 1962 về “Hoạt động của Trung tâm Ea Nao” cho biết: “Lực lượng biệt kích thường được tung vào các vùng bất an ninh để tìm, bám sát, tấn công đối phương bằng du kích chiến và yểm trợ tiếp viện các buôn, ấp khi bị tấn công; còn lực lượng nhân dân chiến đấu hoạt động phản du kích dưới sự chỉ huy, kiểm soát và quản trị của Trung tâm Ea Nao để bảo vệ buôn, chống xâm nhập của Việt cộng”.

Những thanh niên Ê Đê được tuyển chọn trở thành biệt kích và nhân dân chiến đấu tập trung ở Trung tâm Eo Nao một khóa với thời gian bốn tuần, mỗi ngày tám giờ. Chương trình huấn luyện quân sự cơ bản các kỹ năng về du kích, tuần tiễu, phục kích; đối với cấp chỉ huy nội dung huấn luyện như trên, nhưng thêm phần tâm lý chiến, nguyên tắc căn bản của người chỉ huy và nguyên tắc căn bản của hành quân phối hợp. Sau khi hoàn tất khóa huấn luyện, số biệt kích này được cấp phát vũ khí và trở về buôn làng của mình (vũ khí được cấp phát thuộc loại súng trường kiểu 03, tiểu liên Madsen, súng trường Carbine và trung liên Bar). Khối lượng vũ khí cũng được Mỹ tăng cường trang bị cho Trung tâm Ea Nao.

Mầm mống thất bại từ trứng nước

Chương trình VDP phát triển rất nhanh, thêm 200 buôn Ê Đê khác được “đoàn ngũ hóa”. Cũng theo tài liệu “Lực lượng đặc biệt Mỹ 1961 – 1971” kết quả chương trình ở 200 buôn Ê Đê tiếp theo (từ tháng 4/1962 đến tháng 12/1962) gốm có: dân số trong các làng phòng vệ là 60.000 người, số dân trong làng được trang bị và huấn luyện võ trang trở thành lực lượng biệt kích là 1.500 người và lực lượng nhân dân chiến đấu là 10.600 người. Đến cuối năm 1962, chính quyền VNCH trao trách nhiệm chương trình này cho Tỉnh trưởng Đắk Lắk với chỉ thị huấn luyện thêm những tộc người Jarai và Mnông. Tuy nhiên trên thực tế, chính quyền Đắk Lắk không cho tiếp tục phát triển chương trình này một cách độc lập và kết hợp với kế hoạch xây dựng ấp chiến lược Thượng của tỉnh. Như vậy, chương trình từ thí nghiệm thành công ở Buôn Ea Nao đã được nhân rộng ra các làng khác để tạo thành một vành đai bảo vệ cho Buôn Ma Thuột, trung tâm chính trị của Tây Nguyên.

“Phòng vệ xóm làng” là một trong những biện pháp để “hiện thực hóa” ý đồ tác chiến của Mỹ và VNCH trên chiến trường Tây Nguyên. Chính trong tài liệu “Dự án kế hoạch tác chiến tại miền Thượng du”, chế độ VNCH đã thừa nhận “để thắng đối phương, điều kiện tiên quyết là phải tranh thủ lại nhân dân trong tay Việt cộng”. Do vậy, chúng đặt ra mục tiêu: “Làm thế nào tách rời Việt cộng ra khỏi quảng đại quần chúng, khép chặt nhân dân làm một lực lượng hỗ trợ cho ta”. Việc triển khai chương trình mà mục tiêu quan trọng nhất nhằm trang bị vũ khí, huấn luyện quân sự cho đồng bào các dân tộc thiểu số Tây  Nguyên.

Mục tiêu là thế nhưng ở cơ sở lại là chuyện khác. Chính viên Tỉnh trưởng đã tiếp nhận chương trình này để tranh thủ nhận nguồn tiền viện trợ của Mỹ. Dù chương trình được tạo điều kiện thuận lợi, số lượng buôn làng tham gia đông đảo (200 buôn), nhưng kết quả theo sự thừa nhận của W. Colby: “Lý do họ tham gia vào chương trình là ở những lợi ích mà việc giúp đỡ y tế, hỗ trợ nông nghiệp và một số lợi ích vật chất khác đem lại cho họ chứ không phải về bố phòng buôn làng, trang bị vũ khí hay huấn luyện quân sự, đào tạo biệt kích nhằm chống phá cách mạng như mục tiêu chính, quan trọng của chương trình đã đề ra”. Do vậy, ngay từ đầu chương trình “Phòng vệ xóm làng” đã mang mầm mống phá sản. 

Tin liên quan

Các tin khác