Nhận diện và tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế về bình đẳng giới
(PLVN) - Trong xã hội, một tư duy hay hành động dù là nhỏ hoặc vô tình cũng có thể làm thực trạng bất bình đẳng giới trở nên nghiêm trọng hơn. Giải pháp cho vấn đề này đó là tránh tư duy cào bằng, chuyển từ “lồng ghép giới” sang “bảo đảm bình đẳng giới thực chất”, nhận diện và tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế bình đẳng giới.
Nhận thức về giới cần được in sâu từ nhận thức đến hành động
Giáo dục không chỉ là nơi truyền thụ tri thức, mà còn góp phần hình thành nhân cách, hệ giá trị và cách ứng xử xã hội của con người ngay từ những năm tháng đầu đời. Vì vậy, nếu muốn thúc đẩy bình đẳng giới trong xã hội, thì điểm khởi đầu chính là môi trường giáo dục, mà quan trọng nhất là từ nhận thức, thái độ, hành vi nghề nghiệp của chính đội ngũ nhà giáo. Một giáo viên dù chỉ vô tình duy trì định kiến giới trong lời nói, kỳ vọng, hay trong cách phân công nhiệm vụ… giữa học sinh nam, học sinh nữ, về lâu dài sẽ làm cho khuôn mẫu bất bình đẳng giới in sâu vào nhận thức học sinh.
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 xác định giáo dục là một trong 6 lĩnh vực trọng tâm cần thúc đẩy bình đẳng giới. Trên cơ sở đó, Đề án “Đưa việc giảng dạy nội dung về giới, bình đẳng giới vào chương trình đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng ngành Giáo dục mầm non và trình độ đại học giai đoạn 2024 - 2030” đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt tháng 12/2023, mục tiêu đến giai đoạn 2025 - 2026, toàn bộ cơ sở đào tạo giáo viên trên cả nước phải đưa nội dung giới và bình đẳng giới vào chương trình chính thức, với đội ngũ giảng viên, tài liệu và phương pháp giảng dạy được chuẩn hóa.
Nhưng thực tế cho thấy, tại nhiều cơ sở giáo dục, việc giảng dạy nội dung về giới, bình đẳng giới vào chương trình đào tạo mới chỉ dừng lại như một hoạt động mang tính phong trào trong nhà trường sư phạm, nên khó có thể làm thay đổi cách người thầy tương lai nhìn nhận, đối xử với học trò của mình theo góc độ giới.
Tại Hội thảo “Triển khai tích hợp nội dung về giới, bình đẳng giới trong chương trình đào tạo giáo viên” do Bộ GD&ĐT tổ chức vừa qua, bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD&ĐT đã thẳng thắn chỉ ra thực trạng nhiều cơ sở đào tạo hiện mới dừng ở cách tiếp cận “có hoạt động”, tức là xác nhận rằng nhà trường đã tổ chức hội thảo, đã có tài liệu, hoặc giảng viên có đề cập đến nội dung giới. Nhưng lại chưa chuyển sang cách tiếp cận “có kết quả học tập”, nghĩa là chứng minh được người học thực sự đã hình thành năng lực nhận diện, phân tích và xử lý các vấn đề giới trong thực hành nghề nghiệp. Điều này dẫn đến câu hỏi những giáo viên tương lai có thực sự hình thành được năng lực nhận diện, phân tích và xử lý các vấn đề giới trong khi giảng dạy không.
Tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Quyên Thanh khẳng định, tích hợp nội dung về giới và bình đẳng giới trong chương trình đào tạo giáo viên không nên được xem đơn thuần là việc bổ sung thêm một nội dung vào chương trình sẵn có. Thúc đẩy bình đẳng giới trong giáo dục trước hết phải bắt đầu từ chính môi trường giáo dục, từ chương trình, học liệu, phương pháp, cách tổ chức hoạt động và quan trọng nhất là từ nhận thức, thái độ, hành vi nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo.
Tư duy lập pháp trung tính về giới đang là một rào cản vô hình
Không chỉ trong ngành Giáo dục, vấn đề phải làm gì để nhận thức về giới, bảo đảm bình đẳng giới thực sự ăn sâu vào nhận thức và phản ánh qua hành động thực tiễn cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội. Ngày 16/9/2026, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Hội nghị tham vấn, phản biện xã hội đối với nội dung sửa đổi Luật Bình đẳng giới trong Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Lưu trữ, Luật Bình đẳng giới và Luật Hoạt động Chữ thập đỏ. Vấn đề chuyển từ tư duy “lồng ghép giới” sang “bảo đảm bình đẳng giới” trong xây dựng pháp luật đã được nhấn mạnh.
Theo bà Nguyễn Thị Mai Hoa, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội khóa XV, tư duy lập pháp trung tính về giới đang là một rào cản vô hình. Trong không ít dự thảo luật chuyên ngành, các ban soạn thảo thường ngộ nhận rằng khi điều luật quy định đối xử như nhau giữa nam và nữ thì đồng nghĩa với việc đã bảo đảm bình đẳng. Thế nhưng, đối xử cào bằng trong bối cảnh hai giới có xuất phát điểm, đặc điểm sinh học và vai trò xã hội khác nhau thực chất lại duy trì sự bất bình đẳng một cách hợp pháp.
Nếu theo Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, nguyên tắc bình đẳng về giới trong xây dựng pháp luật chỉ được tiếp cận theo cách “lồng ghép vấn đề bình đẳng giới” thì Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã thay đổi cách tiếp cận, xác định vấn đề “bảo đảm bình đẳng giới” là một trong các nguyên tắc bắt buộc trong xây dựng quy phạm pháp luật. “Việc sửa đổi Luật Bình đẳng giới lần này cần bắt nhịp ngay với nhận thức mới: chuyển từ một khái niệm “lồng ghép” vốn rất mơ hồ, khó đo lường sang “bảo đảm” với các tiêu chí, chỉ số và giải pháp pháp lý cụ thể, rõ ràng”, theo bà Mai Hoa.
TS Dương Thị Thanh Mai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp đã chỉ ra 3 “điểm nghẽn” thể chế bình đẳng giới cơ bản. Về bản chất đây là các “điểm nghẽn” trong chuyển hóa từ “pháp luật trên văn bản” sang “pháp luật trong hành động” thông qua tổ chức và hoạt động của các thiết chế, các cơ chế áp dụng, thực hiện chính sách, quy định pháp luật về bình đẳng giới trong xử lý, giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộc sống.
Như vậy, trong cấu trúc thể chế bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, “điểm nghẽn” chủ yếu chính là thiếu cơ chế thể chế hóa các công cụ bảo đảm bình đẳng giới từ Luật Bình đẳng giới vào hệ thống pháp luật chuyên ngành và cơ chế chuyển hóa các quy phạm pháp luật về bình đẳng giới thành khả năng vận hành hiệu quả toàn bộ chu trình sống của thể chế bình đẳng giới.
“Việc nhận diện đúng các “điểm nghẽn” để tháo gỡ, hoàn thiện thể chế như một “chu trình sống”, chuyển mạnh mẽ từ “làm luật” sang “vận hành thể chế” và “chu trình sống” của thể chế chính là quan điểm định hướng rất rõ ràng của Đảng thể hiện tại các Nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết số 66 -NQ/TƯ ngày 30/4/2025 về “Xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” và ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 13/5/2026 vừa qua”, theo TS Dương Thị Thanh Mai.