Chặn lửa từ gốc – khi pháp luật chưa đến nơi, thảm họa vẫn chực chờ

Kỳ 2: Khoảng trống thực thi - Khi chấp hành pháp luật còn là hình thức

Kỳ 2: Khoảng trống thực thi - Khi chấp hành pháp luật còn là hình thức
Đằng sau mỗi vụ cháy là cuộc chiến cam go, nơi người lính phòng cháy, chữa cháy đối mặt hiểm nguy để bù đắp cho những khoảng trống trong ý thức phòng ngừa.

(PLVN) - Nếu ở Kỳ 1, vấn đề dừng lại ở “luật đã có nhưng chấp hành chưa nghiêm”, thì sang Kỳ 2, khoảng cách ấy lộ rõ hơn: không nằm trên văn bản, mà nằm ở cách thực thi trong đời sống. Khi yêu cầu phòng cháy, chữa cháy chưa trở thành thói quen, khi việc chấp hành vẫn mang tính đối phó, hình thức, thì “khoảng trống” nguy hiểm nhất không còn ở trên giấy, mà nằm ngay trong từng cơ sở, từng khu dân cư, và trong chính những hành vi rất nhỏ nhưng có thể dẫn tới hậu quả lớn.

Những vi phạm nằm trong khoảng trống thực thi

Những con số không biết nói dối. Nhưng nếu chỉ nhìn vào con số, đôi khi lại bỏ qua bản chất.

Quý I/2026, Hà Nội xảy ra 199 vụ cháy, làm chết 3 người, bị thương 5 người; thiệt hại khoảng 27 tỷ đồng. So với cùng kỳ, số vụ và thiệt hại đều giảm. Lực lượng Cảnh sát PCCC&CNCH đã cứu được hàng chục người, bảo vệ nhiều tài sản, công trình.

Nhưng phía sau những con số “giảm” ấy, một nghịch lý vẫn tồn tại: cháy lớn, thiệt hại nặng vẫn xảy ra, và nguyên nhân lại đến từ những vi phạm rất cơ bản, những điều pháp luật đã quy định từ lâu.

Nói cách khác, vấn đề không nằm ở thiếu luật, mà ở chỗ luật chưa đi hết quãng đường từ văn bản đến hành động.

Thiếu tướng Nguyễn Hồng Ky – Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội chỉ rõ: Nhiều vụ cháy không có hệ thống cảnh báo sớm, phát hiện muộn, khiến thời gian cháy tự do kéo dài. Khi lực lượng tiếp cận, đám cháy đã vượt quá khả năng khống chế ban đầu.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Hồng Ky – Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội, khoảng trống lớn nhất hiện nay không nằm ở quy định, mà ở khâu thực thi trong thực tế.
Theo Thiếu tướng Nguyễn Hồng Ky – Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội, khoảng trống lớn nhất hiện nay không nằm ở quy định, mà ở khâu thực thi trong thực tế.

Tại một chung cư ở Cổ Nhuế, những chi tiết rất nhỏ lại phản ánh rõ điều đó: chưa có vạch đỗ xe chữa cháy, thiếu biển báo.

Ông Vi Hồng Cảnh, Trưởng ban quản lý tòa nhà thừa nhận: Nếu người dân thiếu ý thức, hậu quả có thể rất nghiêm trọng. Nhưng ngay cả khi “có sợ”, việc khắc phục vẫn chưa đầy đủ.

Những hình ảnh này không mới. Đó là những lỗi đã được cảnh báo nhiều lần, nhưng vẫn lặp lại.

Ở các địa bàn đông dân như Cầu Giấy, áp lực càng rõ. Theo ông Ngô Ngọc Phương - Chủ tịch UBND phường Cầu Giấy (Hà Nội), luật đã có, nhưng chưa chạm tới đời sống vi mô.

Thực tế kiểm tra cho thấy các vi phạm lặp lại theo một “kịch bản quen thuộc”: lối thoát nạn bị bịt kín; hệ thống điện chằng chịt, xuống cấp; phương tiện phòng cháy, chữa cháy không được duy trì; nhà trong ngõ sâu, khó tiếp cận.

Ông Lương Việt Anh -  Cán bộ Phòng Kinh tế hạ tầng và Đô thị phường Cầu Giấy cho biết, với các trường hợp không chuyển biến, sẽ kiên quyết đình chỉ hoạt động.

Vấn đề vì thế không phải là “không biết”, mà là “không làm đến cùng”.

Từ khu dân cư đến nhà máy: “Đối phó” không còn là cá biệt

Nếu ở khu dân cư, vi phạm mang tính thói quen, thì ở khu vực sản xuất – kinh doanh, nó trở thành vấn đề quản trị.

Ông Nguyễn Văn Quý – Phó Trưởng Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trao đổi về những tồn tại trong công tác phòng cháy, chữa cháy tại doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Văn Quý – Phó Trưởng Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trao đổi về những tồn tại trong công tác phòng cháy, chữa cháy tại doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Văn Quý – Phó Trưởng ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh chỉ ra: nhiều doanh nghiệp chưa coi phòng cháy, chữa cháy là yếu tố gắn với an toàn sản xuất. Trong khi đó, áp lực chi phí, cải tạo hệ thống và thay đổi công năng khiến việc tuân thủ bị xem nhẹ.

Thực tế tại Bắc Ninh là một minh chứng rõ nét: từ năm 2025 đến nay xảy ra 92 vụ cháy, làm 4 người chết, thiệt hại hơn 651 tỷ đồng. Hơn 53% số vụ bắt nguồn từ sự cố điện, một nguyên nhân không mới.

Các vi phạm vì thế cũng không mới: từ an toàn điện, quản lý nguồn lửa, nguồn nhiệt, đến lối thoát nạn bị lấn chiếm, phương tiện phòng cháy, chữa cháy không được duy trì, công trình chưa nghiệm thu đã đưa vào hoạt động.

Điểm đáng lo ngại không phải là vi phạm đơn lẻ, mà là cách vi phạm lặp lại như một thói quen.

Đại tá Trần Thế Cường – Phó Giám đốc Công an tỉnh Bắc Ninh thẳng thắn: tình trạng làm phòng cháy, chữa cháy mang tính đối phó vẫn phổ biến, đặc biệt ở nhà ở kết hợp kinh doanh, nhà trọ. Trang bị thì có, nhưng không kiểm tra, không bảo dưỡng. Hồ sơ thì đủ, nhưng phương án không sát thực tế. Đến khi sự cố xảy ra, những gì “đã có” lại không dùng được.

Ở cấp độ sâu hơn, vấn đề không chỉ nằm ở hành vi, mà nằm ở cả hệ thống vận hành.

Ông Nguyễn Văn Quý – Phó Trưởng ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh cho biết: nhiều dự án tuân thủ quy chuẩn ở khâu thiết kế, nhưng khi vận hành lại thay đổi công năng mà không đánh giá lại điều kiện an toàn. Việc duy trì sau nghiệm thu bị xem nhẹ; quản lý theo vòng đời công trình còn hạn chế; một bộ phận doanh nghiệp vẫn coi phòng cháy, chữa cháy là chi phí, không phải yếu tố cốt lõi.

Từ đó, vi phạm không còn là hiện tượng cá biệt, mà trở thành hệ quả của ba nguyên nhân quen thuộc: chủ quan, đối phó và áp lực chi phí.

Ba yếu tố này kết hợp tạo thành một vòng lặp quen thuộc: vi phạm, nhắc nhở, xử phạt rồi tái diễn, khiến khoảng trống thực thi kéo dài dai dẳng.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn - Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trao đổi về cơ sở lý luận của công tác phòng cháy, chữa cháy trong giai đoạn mới, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng phòng ngừa là trọng tâm, gắn trách nhiệm thực thi với từng chủ thể và nâng cao tính tự giác trong xã hội.
Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn - Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trao đổi về cơ sở lý luận của công tác phòng cháy, chữa cháy trong giai đoạn mới, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng phòng ngừa là trọng tâm, gắn trách nhiệm thực thi với từng chủ thể và nâng cao tính tự giác trong xã hội.

Nhìn từ góc độ lý luận, Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn – Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: Khoảng trống lớn nhất trong phòng cháy, chữa cháy hiện nay không nằm ở hệ thống pháp luật, mà nằm ở việc thực thi chưa đến nơi đến chốn. Khi quy định chưa được chuyển hóa thành ý thức tự giác và hành vi thường xuyên của từng cá nhân, từng cơ sở, thì dù chế tài có đầy đủ đến đâu, hiệu quả phòng ngừa vẫn khó đạt như kỳ vọng.”

Đi sâu vào bản chất, khoảng trống ấy không chỉ là vấn đề thực thi, mà còn là vấn đề nhận thức.

Trên thực tế, một trong những “điểm nghẽn” đáng chú ý hiện nay không chỉ nằm ở kỹ thuật hay nguồn lực, mà ở cách nhìn nhận trách nhiệm trong công tác phòng cháy, chữa cháy.

Ở không ít nơi, vẫn tồn tại tâm lý coi phòng cháy, chữa cháy là “việc của Nhà nước”, trong khi theo quy định pháp luật, đây trước hết là trách nhiệm trực tiếp của từng cá nhân, từng hộ gia đình và từng doanh nghiệp, những chủ thể đang khai thác, sử dụng công trình. Khi trách nhiệm bị “đẩy ra ngoài”, việc chấp hành tất yếu dễ rơi vào hình thức, đối phó.

Cùng với đó là cách tiếp cận thiếu đầy đủ về phòng ngừa. Nhiều người cho rằng cháy nổ là rủi ro ít xảy ra, từ đó cắt giảm đầu tư hoặc xem nhẹ việc duy trì các điều kiện an toàn. Tuy nhiên, đặc thù của cháy nổ không nằm ở tần suất, mà ở hậu quả, một khi xảy ra thường để lại thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng, thậm chí không thể khắc phục.

Thực tiễn cho thấy, phần lớn các vụ cháy lớn đều bắt nguồn từ những vi phạm rất cơ bản: hệ thống điện không đảm bảo, hàn cắt thiếu an toàn, sắp xếp vật liệu dễ cháy không đúng quy định, không duy trì hoạt động của phương tiện phòng cháy, chữa cháy, hoặc thiếu kỹ năng xử lý ban đầu. Đây đều là những yếu tố thuộc về ý thức và trách nhiệm của con người, không phải do thiếu quy định.

Đáng lưu ý, chính những hạn chế này đôi khi bị nhìn nhận lệch lạc, thậm chí bị lợi dụng để quy kết sai bản chất vấn đề, làm mờ đi trách nhiệm của chủ thể trực tiếp. Điều đó không chỉ gây nhiễu thông tin mà còn làm suy giảm tính tự giác trong chấp hành pháp luật.

Vì vậy, để lấp đầy “khoảng trống thực thi”, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng cường kiểm tra, xử phạt, mà còn phải điều chỉnh nhận thức. Người dân và doanh nghiệp phải coi phòng cháy, chữa cháy là nghĩa vụ pháp lý gắn liền với lợi ích sống còn của chính mình, từ đó chuyển từ tâm lý đối phó sang chủ động phòng ngừa, từ làm cho đủ sang làm để an toàn thực chất.

Có thể khẳng định, nguyên nhân sâu xa của nhiều vụ cháy không nằm ở sự thiếu vắng quy định, mà ở việc không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện có. Và khi nhận thức chưa thay đổi, thì mọi giải pháp kỹ thuật hay chế tài, dù mạnh đến đâu, cũng khó phát huy hiệu quả bền vững.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên - bà Nguyễn Thị Loan trao đổi về yêu cầu siết chặt trách nhiệm người đứng đầu, nhấn mạnh công tác phòng cháy, chữa cháy phải được thực hiện thực chất, trở thành tiêu chí bắt buộc trong quản lý, điều hành và hoạt động của cơ sở, doanh nghiệp.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên - bà Nguyễn Thị Loan trao đổi về yêu cầu siết chặt trách nhiệm người đứng đầu, nhấn mạnh công tác phòng cháy, chữa cháy phải được thực hiện thực chất, trở thành tiêu chí bắt buộc trong quản lý, điều hành và hoạt động của cơ sở, doanh nghiệp.

Bà Nguyễn Thị Loan – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên nhấn mạnh: nếu không gắn trách nhiệm đến từng cấp, từng người đứng đầu, thì khoảng trống này sẽ không thể lấp đầy. Phòng cháy, chữa cháy phải trở thành yêu cầu bắt buộc trong quản lý và vận hành, không thể chỉ dừng ở vận động. Yêu cầu đó cũng là hướng đi đang được lực lượng chức năng cụ thể hóa trong thực tiễn.

Ở góc độ thực thi, Đại tá Nguyễn Xuân Hùng – Phó Giám đốc Công an tỉnh Thái Nguyên cho biết: cần siết chặt kỷ luật, gắn trách nhiệm người đứng đầu, kiên quyết chấm dứt tình trạng làm cho có; đồng thời đổi mới tuyên truyền theo hướng dễ hiểu, dễ thực hiện.

Ở cấp độ toàn quốc, quan điểm xử lý vi phạm cũng được xác định rất rõ ràng:

Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ (Bộ Công an) nhấn mạnh: mọi vi phạm đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh, bảo đảm nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Những giải pháp đang được triển khai cho thấy quyết tâm lấp đầy khoảng trống. Nhưng thực tế lại đặt ra một nghịch lý: càng siết, vi phạm vẫn còn; càng nhắc, sai phạm vẫn lặp lại.

Vấn đề vì thế không chỉ là có làm hay không, mà là làm đến đâu và duy trì được bao lâu.

Một chủ cơ sở kinh doanh karaoke nói thẳng: “Phải kiểm tra thường xuyên thì mới đảm bảo an toàn.”

Nhưng chính điều đó lại đặt ra câu hỏi: nếu không có kiểm tra, liệu việc chấp hành có còn? Khi an toàn vẫn phụ thuộc vào sự nhắc nhở, khi ý thức chưa đủ để tự vận hành, thì khoảng trống thực thi không chỉ tồn tại, mà còn có nguy cơ lặp lại theo một vòng tròn quen thuộc.

Và lúc này, vấn đề không còn dừng ở nhận thức, mà chuyển sang một câu hỏi trực diện hơn: Chế tài đã đủ mạnh hay vẫn chưa đủ sức buộc người ta phải thay đổi trong thực tế?

(Còn nữa)

Kỳ 3: Khóa chặt khoảng trống thực thi – đưa pháp luật vào từng hành vi

Trần Sơn - Đức Anh