Kiến tạo thể chế để Hà Nội thực sự là nơi hiền tài hội tụ và tỏa sáng - Bài 3: Giải các “bài toán lớn” của Thủ đô từ nguồn nhân lực chất lượng cao
Hà Nội đang đứng trước bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển nguồn nhân lực. Nếu trước đây, đào tạo chủ yếu hướng đến việc đáp ứng nhu cầu về bằng cấp và số lượng lao động có trình độ, thì định hướng mới đặt trọng tâm vào việc đào tạo để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, những “bài toán lớn” của Thủ đô.
Đây là điểm rất đáng chú ý trong định hướng phát triển nguồn nhân lực Thủ đô, bởi một đô thị đặc biệt như Hà Nội không chỉ cần nhiều người có trình độ cao, mà cần đội ngũ có khả năng trực tiếp tham gia xử lý các vấn đề, những “bài toán khó” từ thực tế và tương lai của đô thị và đất nước như về môi trường, giao thông, chuyển đổi số, quản trị đô thị, bảo tồn di sản, y tế và già hóa dân số...
Nhận diện các nhiệm vụ thực tiễn về phát triển Thủ đô
Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa và khoa học của cả nước với quy mô dân số gần 9 triệu người và tốc độ đô thị hóa thuộc nhóm cao nhất Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất hiện nay là bảo vệ môi trường đô thị. Ô nhiễm không khí, xử lý chất thải rắn, nước thải sinh hoạt, cải tạo hệ thống sông hồ và thích ứng với biến đổi khí hậu đang trở thành áp lực thường trực đối với công tác quản lý đô thị. Đây là lĩnh vực cần đội ngũ chuyên gia về khoa học môi trường, kỹ thuật hạ tầng, công nghệ cảm biến, dữ liệu môi trường và chính sách công để xây dựng các giải pháp có khả năng triển khai trên quy mô toàn thành phố.

Song song với đó là yêu cầu đẩy nhanh chuyển đổi số và xây dựng đô thị thông minh. Từ chính quyền số, giao thông thông minh, quản lý đất đai, xây dựng, y tế, giáo dục đến cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tất cả đều cần nguồn nhân lực có khả năng thiết kế hệ thống, phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin và quản trị số. Đây cũng là lĩnh vực mà khoảng cách giữa đào tạo trong nhà trường với nhu cầu thực tế của các cơ quan quản lý vẫn còn khá lớn.
Một “bài toán” khác của Hà Nội là bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh phát triển nhanh. Thủ đô sở hữu hệ thống di tích, làng nghề và không gian văn hóa đặc biệt phong phú, nhưng để biến di sản thành nguồn lực phát triển cần những chuyên gia về quy hoạch, bảo tồn, thiết kế đô thị, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và công nghệ số. Nếu thiếu đội ngũ nhân lực phù hợp, việc bảo tồn rất dễ rơi vào tình trạng hoặc bị thương mại hóa quá mức, hoặc không tạo được giá trị kinh tế và xã hội tương xứng.
Bên cạnh đó, y tế đô thị và già hóa dân số đang nổi lên như một thách thức dài hạn. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng, quản lý bệnh mạn tính, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, công nghệ y tế và các mô hình an sinh mới sẽ ngày càng gia tăng. Điều này đòi hỏi Hà Nội phải chuẩn bị nguồn nhân lực chuyên sâu ngay từ sớm, không chỉ trong lĩnh vực y khoa mà còn ở các ngành liên quan như công nghệ sinh học, thiết bị y tế, khoa học dữ liệu và quản trị hệ thống y tế.
Chỉ riêng áp lực quản lý đô thị của một đô thị đặc biệt đã đòi hỏi nguồn nhân lực có khả năng ứng dụng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số vào điều hành thành phố. Nghị quyết 57/2026/NQ-HĐND ngày 15/06/2026 về chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao do Hội đồng nhân dân TP Hà Nội khóa XVII thông qua đã xác định rõ thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó nhân lực chất lượng cao và dữ liệu được xem là động lực trực tiếp cho tăng trưởng mới.
Điểm chung của tất cả các lĩnh vực trên là đều không thể giải quyết chỉ bằng đầu tư hạ tầng hay nguồn vốn. Việc nhận diện đúng các nhiệm vụ thực tiễn chính là cơ sở để định hình chương trình đào tạo, ưu tiên nghiên cứu và phân bổ nguồn lực của các trường đại học, viện nghiên cứu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô.
Gắn đào tạo nhân sự chất lượng cao với những “bài toán lớn” của Hà Nội
Trao đổi với phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam, ông Lại Thành Nam, Chủ tịch Liên hiệp Khoa học Công nghệ Xanh Việt Nam (USTG), Phó Chủ tịch Hội Tri thức khoa học và công nghệ trẻ Việt Nam nhận định, trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và quản lý đô thị, để đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, viện nghiên cứu và trường đại học thực sự tham gia giải quyết các nhiệm vụ của Thủ đô như quản lý đô thị, phát triển kinh tế, môi trường hay giao thông, điều quan trọng nhất là phải thiết lập một hệ sinh thái hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Giải pháp được ông Lại Thành Nam nhấn mạnh đầu tiên là cơ chế đặt hàng nhiệm vụ từ chính quyền. Hà Nội cần chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy “đặt hàng”. UBND TP công bố định kỳ danh mục các vấn đề đang cần giải quyết (như nút thắt giao thông, xử lý ô nhiễm sông hồ, quy hoạch bãi đỗ xe thông minh, số hóa quản lý hành chính…). Ngoài ra, cần có cơ chế “đấu thầu” hoặc “giao nhiệm vụ”. Các đề tài không chỉ dựa vào chỉ định mà nên thông qua cơ chế đấu thầu công khai giữa các trường, viện có chuyên môn. Điều này tạo ra tính cạnh tranh và chất lượng cao hơn. Tạo các “Sandbox” (khung thử nghiệm thể chế) để các chuyên gia được quyền thử nghiệm các giải pháp mới trong thực tế của Thủ đô mà không bị bó hẹp bởi các quy trình thủ tục cũ.

Bên cạnh đó, cần có tư vấn và phản biện, phát huy trí tuệ tập thể thông qua các hội đồng chuyên môn cấp TP. Cần hình thành các nhóm chuyên gia đa ngành (từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội) để phản biện trước khi phê duyệt các quy hoạch lớn hoặc dự án trọng điểm. Thiết lập định kỳ các buổi tọa đàm giữa lãnh đạo TP với cộng đồng khoa học để lắng nghe các phát kiến, hiến kế từ phía các trường đại học, thay vì chờ đến khi có vấn đề mới họp. Thực tiễn tại các Thủ đô lớn trên thế giới cho thấy các giải pháp hiệu quả thường đến từ các startup (công ty khởi nghiệp) hoặc dự án chuyển giao từ đại học.
Cần tạo ra các “vườn ươm công nghệ” của Thủ đô. Những “vườn ươm” này sẽ hỗ trợ các trường, viện thành lập các đơn vị khởi nguồn công nghệ (spin-offs) ngay trong lòng đại học, được TP ưu tiên thí điểm các giải pháp, công nghệ mới phục vụ người dân. Đặc biệt, cần có “sàn giao dịch khoa học công nghệ”, nghiên cứu xây dựng nền tảng để kết nối nguồn cung chính là đại học, viện nghiên cứu và nguồn cầu như các sở, ban, ngành, doanh nghiệp tại địa phương.
Điểm tiếp theo là cơ chế sử dụng dữ liệu mở (Open Data). Các nhà khoa học không thể giải quyết “bài toán” thực tiễn nếu thiếu dữ liệu chính xác. Cung cấp quyền truy cập vào dữ liệu sạch, có cấu trúc cho các nhà nghiên cứu để họ chạy mô hình, dự báo (ví dụ: dữ liệu luồng giao thông, chất lượng không khí, tiêu thụ điện năng…). Khi nghiên cứu trên dữ liệu thực, giải pháp sẽ có tính khả thi và ứng dụng cao hơn.
Cơ chế về nhân lực cũng là một phần quan trọng, cần tạo ra nguồn “cán bộ luân chuyển” và “giáo sư hỗ trợ”. Khuyến khích các nhà khoa học từ các trường, viện về làm tư vấn chuyên môn tại các sở, ban, ngành theo hình thức ngắn hạn hoặc dự án, nhằm truyền tải tư duy khoa học vào công tác hành chính. Có cơ chế chi trả đãi ngộ tương xứng với hàm lượng trí tuệ, tránh tình trạng đãi ngộ theo định mức hành chính gây khó khăn trong việc thu hút nhân tài thực thụ từ khu vực hàn lâm.
Cuối cùng, vai trò của các “think tank” (nghiên cứu chính sách) độc lập. Thủ đô nên khuyến khích hình thành các trung tâm nghiên cứu chính sách trực thuộc hoặc kết hợp với các đại học lớn. Những trung tâm này hoạt động theo cơ chế độc lập về tư duy nhưng gắn kết về mục tiêu với TP, chuyên cung cấp các dự báo chiến lược dài hạn thay vì chỉ tập trung giải quyết vụ việc.
Để thực hiện các cơ chế này, Thủ đô cần chấp nhận cơ chế rủi ro trong khoa học. Các nhiệm vụ thực tiễn đôi khi mang tính thí điểm, có thể thành công hoặc chưa đạt kỳ vọng ngay lập tức. Nếu quy định hành chính quá khắt khe về việc nghiệm thu phải đạt hiệu quả ngay, các nhà khoa học sẽ ngại tham gia. Cần tạo tâm thế “thí điểm và đồng hành” để đạt mục tiêu cuối cùng là sự phát triển bền vững của TP.
(Còn tiếp)