Giá vật liệu biến động mạnh: Khoảng trống trong công bố giá và điều chỉnh hợp đồng
Hệ thống văn bản điều chỉnh chi phí đầu tư xây dựng và hợp đồng xây dựng hiện không thiếu. Tuy nhiên, thực tiễn tại Hà Nội cho thấy một nghịch lý: dù giá vật liệu được công bố theo quy định, hợp đồng được ký kết đầy đủ, cơ quan quản lý có đủ công cụ pháp lý để điều hành, nhưng khi thị trường biến động nhanh, mạnh và liên tục, khoảng trống vẫn xuất hiện ở những khâu quan trọng nhất: dữ liệu giá, tốc độ cập nhật, chỉ số điều chỉnh và cơ chế chia sẻ rủi ro trong hợp đồng.
Diễn biến giá vật liệu thời gian qua cho thấy một thực tế cần nhìn nhận thẳng thắn: nhiều khi vấn đề không nằm ở chỗ thiếu quy định, mà ở chỗ quy định chưa theo kịp tốc độ biến động của thị trường. Trong bối cảnh chi phí đầu vào có thể thay đổi theo tuần, thậm chí theo ngày, thì độ trễ của dữ liệu và thủ tục điều chỉnh có thể làm phát sinh rủi ro lớn hơn nhiều so với phần chênh lệch giá nhìn thấy.
Theo văn bản trả lời Báo Pháp luật Việt Nam, Sở Xây dựng Hà Nội cho biết việc công bố giá vật liệu xây dựng hiện được thực hiện theo Nghị định số 10/2021/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng; Thông tư số 11/2021/TT-BXD và các văn bản sửa đổi, bổ sung như Thông tư số 14/2023/TT-BXD, Thông tư số 01/2025/TT-BXD, Thông tư số 60/2025/TT-BXD. Cơ quan này khẳng định công tác công bố giá đã hỗ trợ các chủ đầu tư lập, điều chỉnh dự toán, điều chỉnh hợp đồng và quản lý chi phí theo đúng quy định hiện hành. Xét theo quy định hiện hành, nhận định này có cơ sở, khi hành lang quản lý chi phí đầu tư xây dựng những năm gần đây đã từng bước được hoàn thiện.
Công bố giá theo quy định, nhưng dữ liệu chưa theo kịp thị trường
Tuy nhiên, chính Sở Xây dựng Hà Nội cũng chỉ ra hàng loạt điểm nghẽn trong quá trình công bố giá. Theo Sở, giá vật liệu phải phù hợp với giá thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, nguồn gốc xuất xứ và khả năng cung ứng tại thời điểm công bố. Nhưng thực tế, danh mục vật liệu cần khảo sát rất lớn, trong khi thị trường lại phụ thuộc mạnh vào nhiều yếu tố, đặc biệt là nhiên liệu và vận chuyển. Đồng thời, theo quy định của Luật Giá, nhiều loại vật liệu xây dựng không thuộc diện bình ổn giá, không thuộc diện kê khai giá, không có cơ chế buộc doanh nghiệp cung cấp giá bán cho cơ quan quản lý để công bố. Phần lớn thông tin giá vẫn được thu thập thụ động qua khảo sát thực tế; nhiều doanh nghiệp không cung cấp hoặc cung cấp không đúng giá giao dịch, nhưng chưa có cơ chế xử lý hành vi này. Đây là điểm nghẽn quan trọng, cho thấy gốc rễ của độ vênh giá không chỉ nằm ở thị trường, mà còn ở cơ chế thu thập và xử lý dữ liệu.
Nói cách khác, giá công bố hiện nay có thể đúng quy trình, nhưng chưa chắc đủ sát để phục vụ điều hành trong bối cảnh biến động bất thường. Chính vì vậy, tình trạng chênh lệch giữa giá công bố và giá hiện trường trong một khoảng thời gian nhất định đã được Sở Xây dựng thừa nhận, đặc biệt với các vật liệu rời như cát, đá, sỏi. Nguyên nhân nằm ở độ trễ từ khâu thu thập số liệu đến khi công bố, trong khi giá nhiên liệu, chi phí vận chuyển và chi phí máy thi công biến động liên tục.
Ở phía chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông TP Hà Nội cung cấp thêm góc nhìn từ thực địa. Ban này cho biết giá vật liệu trong công bố của Sở Xây dựng là giá trung bình đến chân công trình tại thời điểm khảo sát trong tháng, trong khi thi công là quá trình liên tục. Vì vậy, trong giai đoạn giá nguyên vật liệu biến động nhanh và với biên độ lớn, sự chênh lệch so với giá mua thực tế là khó tránh. Việc Ban Giao thông thống kê cụ thể chênh lệch giá tại một số dự án trong quý III và quý IV/2025 cho thấy bài toán công bố giá không thể chỉ dừng ở việc “có căn cứ”, mà phải đủ gần thực tế để sử dụng được trong quản lý chi phí và thực hiện hợp đồng.
Hợp đồng xây dựng trước bài toán chia sẻ rủi ro khi giá biến động
Từ đây, một vấn đề lớn hơn bắt đầu lộ rõ: khi giá công bố có độ trễ, còn giá thực tế tăng nhanh, hợp đồng xây dựng trở thành điểm căng. Theo Ban Giao thông, chi phí vật liệu và máy thi công tăng cao đã làm chi phí thực tế vượt xa đơn giá trong hợp đồng đã ký, ảnh hưởng lớn đến nguồn lực tài chính của nhà thầu, khiến họ thi công cầm chừng, dè dặt. Bên cạnh đó, giá nhiên liệu tăng mạnh khiến chi phí nhiên liệu chiếm 30–50% chi phí máy thi công, buộc nhà thầu phải tính toán thận trọng khi tham gia đấu thầu, qua đó phần nào làm giảm sự tham gia của các nhà thầu vừa và nhỏ, ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh trong xây lắp.
Pháp luật hiện hành không thiếu cơ chế xử lý hợp đồng. Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 50/2021/NĐ-CP, cho phép các bên xem xét điều chỉnh trong các trường hợp luật định. Tuy nhiên, trên thực tế, các hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định thường có khả năng hấp thụ rủi ro thấp khi đầu vào biến động mạnh. Vì vậy, Ban Giao thông đã kiến nghị cần có giải pháp tháo gỡ riêng đối với hợp đồng trọn gói; đồng thời đề nghị các đơn vị liên quan thường xuyên rà soát, cập nhật, công bố kịp thời giá vật liệu và chỉ số giá xây dựng, đặc biệt đối với các loại vật liệu chịu biến động bất thường do giá nhiên liệu. Việc công bố theo tháng hoặc sớm hơn, nếu cần thiết, được xem là giải pháp để chủ đầu tư có cơ sở điều chỉnh dự toán và giá hợp đồng.
Từ góc nhìn điều hành, khoảng trống lớn nhất hiện nay không phải là thiếu quy định, mà là quy định chưa chuyển hóa đủ nhanh thành công cụ vận hành hiệu quả. Chính phủ và Bộ Xây dựng đã có những động thái cập nhật chính sách. Thông tư số 60/2025/TT-BXD bổ sung Phụ lục XI hướng dẫn khảo sát, thu thập, công bố giá vật liệu xây dựng, giao Sở Xây dựng chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện khảo sát, bảo đảm khách quan và kịp thời. Đây là bước tiến về thể chế, cho thấy tư duy điều hành đang dịch chuyển theo hướng tiệm cận dữ liệu thị trường. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, việc tổ chức thu thập dữ liệu cần đủ rộng, đủ chính xác, đủ nhanh và có khả năng kiểm chứng.
Tại Hà Nội, Sở Xây dựng cho biết đã tham mưu trình UBND Thành phố xem xét phê duyệt Đề án “Quản lý, phát triển nguồn cung khoáng sản làm vật liệu xây dựng phục vụ các dự án của Thành phố giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2050”. Theo định hướng này, sau khi đề án được phê duyệt, Sở sẽ tiếp tục tham mưu kế hoạch triển khai với phân công cụ thể cho các sở, ngành, chính quyền cơ sở và chủ đầu tư, nhằm tăng cường nguồn cung, giảm chênh lệch cung – cầu và góp phần kiểm soát giá vật liệu. Đây là hướng tiếp cận từ gốc, không chỉ dừng ở công bố giá mà còn gắn với điều tiết thị trường.
Tuy nhiên, thực tiễn công trường cho thấy bài toán chưa thể giải quyết ngay bằng các giải pháp dài hạn. Ban Giao thông cho biết đã phải làm việc trực tiếp với các nhà thầu, yêu cầu huy động nguồn lực tài chính để duy trì thi công; giao tư vấn giám sát xác định khối lượng phát sinh do giá xăng dầu để làm cơ sở điều chỉnh; đánh giá tác động biến động giá để sử dụng chi phí dự phòng hợp lý; đồng thời rà soát các hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng trọn gói và hợp đồng theo đơn giá cố định, để điều chỉnh tiến độ và điều hòa kế hoạch vốn. Những giải pháp này cho thấy chủ đầu tư đang chủ động thích ứng, nhưng cũng phản ánh rõ thực tế: khi cơ chế vĩ mô chưa theo kịp, áp lực sẽ dồn xuống cấp thực thi.
Thực tiễn đặt ra yêu cầu rõ ràng: một cơ chế công bố giá hiệu quả không chỉ cần đúng quy định, mà còn phải đủ sát và đủ nhanh để phục vụ điều hành. Một cơ chế hợp đồng bền vững không chỉ chặt chẽ về pháp lý, mà còn phải có khả năng chia sẻ rủi ro khi thị trường biến động. Và một cơ chế quản lý chi phí hiện đại không thể chỉ dừng ở việc hoàn tất hồ sơ, mà phải đủ linh hoạt để phản ứng với diễn biến thực tế. Khi giá vật liệu có thể biến động theo ngày, nhưng dữ liệu vẫn thu thập theo chu kỳ; khi chi phí đầu vào tăng ngay tại công trường, nhưng thủ tục điều chỉnh kéo dài qua nhiều bước; khi nhà thầu phải mua vật liệu theo giá thực tế, nhưng hồ sơ vẫn neo theo mức giá cũ, thì khoảng trống thể chế là điều khó tránh.
Khoảng trống này không nằm ở số lượng văn bản, mà nằm ở khoảng cách giữa quy định và vận hành. Nếu không được lấp đầy bằng dữ liệu tin cậy hơn, công bố giá kịp thời hơn, chỉ số giá sát thực tế hơn và cơ chế điều chỉnh hợp đồng linh hoạt hơn, “độ vênh” giữa giá công bố và giá thị trường sẽ tiếp tục chuyển hóa thành rủi ro của dự toán, tiến độ, đấu thầu và cuối cùng là hiệu quả đầu tư công.
Hạ tầng đang được xác định là động lực tăng trưởng, câu chuyện giá vật liệu cần được nhìn đúng tầm. Đây không chỉ là vấn đề chi phí xây dựng, mà là vấn đề chất lượng điều hành. Và yêu cầu đặt ra lúc này không phải là ban hành thêm nhiều văn bản, mà là làm cho các công cụ hiện có thực sự vận hành theo nhịp của thị trường.