Định hình thị trường lao động mới - Từ đổi mới trong giáo dục nghề nghiệp đến các quyết sách thích ứng
(PLVN)- Thực tiễn quá trình định hình thị trường lao động Việt Nam trong bối cảnh phục hồi kinh tế và chuyển đổi số cho thấy còn nhiều bất cập, cần thiết phải đẩy mạnh vai trò then chốt của đổi mới giáo dục nghề nghiệp, phát triển kỹ năng số và đào tạo lại lao động. Đồng thời, các quyết sách mới về dân số, giáo dục nghề nghiệp và thị trường lao động được nhìn nhận là nền tảng để tận dụng hiệu quả cơ hội “dân số vàng”, hướng tới tăng trưởng bền vững.
Thị trường lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi kinh tế
Ngày 5/1/2026, Cục Thống kê, Bộ Tài chính, công bố thông tin về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. Theo đó, tính chung cả năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tăng gần 590 nghìn người so với năm trước; số người có việc làm đạt 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%...
Theo đánh giá của Bộ Nội vụ, trong năm 2025, lĩnh vực lao động - việc làm có nhiều kết quả nổi bật, góp phần quan trọng vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Tuy nhiên, một trong những tồn tại, hạn chế là thị trường lao động phát triển chưa đồng đều, còn tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ giữa các vùng miền, khu vực, ngành nghề kinh tế, giữa các loại lao động khác nhau (lao động phổ thông, lao động quản lý, lao động trình độ kỹ thuật cao…); chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi kinh tế. Người lao động thiếu trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tác phong công nghiệp để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng và thích ứng với các công việc, ngành nghề có tính chuyên môn hóa cao.

“Trung học nghề” vào hệ thống giáo dục quốc dân. (Ảnh minh họa - Nguồn: PoE)
Do đó, trong năm tới, ngành nội vụ đề xuất, cần tăng cường kết nối cung - cầu, phát triển mạnh thị trường lao động; làm tốt công tác an toàn, vệ sinh lao động và tăng cường quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam. Cơ quan này cũng nhấn mạnh tới việc thúc đẩy tạo việc làm bền vững, sử dụng lao động hiệu quả thông qua các chương trình, đề án, chính sách tín dụng hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ người lao động tham gia thị trường lao động. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách, chương trình, đề án về hỗ trợ giải quyết việc làm trong nước; chú trọng giải quyết việc làm cho thanh niên, lao động trung niên, lao động yếu thế và lao động nữ; chuyển dịch nhanh lao động có việc làm phi chính thức sang việc làm chính thức; chú trọng hỗ trợ lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, các khu công nghiệp và lao động vùng biên. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, quản lý chất lượng, hoạt động của tổ chức dịch vụ việc làm; đầu tư phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm công lập, thiết lập cơ chế để các trung tâm dịch vụ việc làm công lập trở thành một định chế thực thụ của thị trường, tham gia vào thị trường và trở thành công cụ quản lý nhà nước đối với thị trường lao động và bảo đảm quyền lợi cho người lao động…
Nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là yêu cầu tất yếu của thị trường lao động
Theo tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025 do Cục Thống kê công bố, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tính chung năm 2025 ước tính đạt 29,2%, tăng 0,9 điểm phần trăm so với năm trước, cho thấy chất lượng nguồn lao động ngày càng được cải thiện.
Khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là yêu cầu tất yếu của thị trường lao động. Đơn cử như ngành logistics của Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Công Thương, ngành logistics đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là về vấn đề nguồn nhân lực. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tính đến năm 2024, thị trường có hơn 30.000 doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ logistics. Khoảng 50% doanh nghiệp logistics tham gia khảo sát cho hay có nhu cầu tuyển dụng thêm 15 - 20% nhân viên. Thực tế, nguồn nhân lực hiện không đáp ứng được yêu cầu của ngành dịch vụ logistics, đặc biệt thiếu cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao. “Dù là ngành xương sống, nhưng nguồn lao động logistics chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường và công nghệ”, báo cáo nêu rõ.

Theo Bộ Công Thương, ngành logistics Việt Nam hiện đối mặt với một khoảng trống lớn về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn. Chỉ có khoảng 5 - 7% lực lượng lao động trong ngành logistics được đào tạo bài bản, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về nhân lực có trình độ. Khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển TP HCM cho thấy, 53,3% doanh nghiệp logistics thiếu nhân viên có trình độ và kiến thức về logistics, chỉ 6,7% doanh nghiệp hài lòng với trình độ chuyên môn của nhân viên. Việc thiếu hụt nhân lực có kỹ năng công nghệ thông tin khiến nhiều công ty phải đầu tư vào việc đào tạo lại nhân viên hoặc thuê chuyên gia từ nước ngoài.
Tháng 10/2025, Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn đã ký Quyết định số 2229 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Theo Quyết định 2229, Việt Nam đặt mục tiêu giai đoạn 2025 - 2030, ngành logistics phấn đấu đạt 70% lao động được đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong đó 30% có trình độ đại học trở lên. Đến năm 2050, cả nước hướng tới mục tiêu 90% lao động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật, trong đó 50% có trình độ đại học trở lên.
Ở góc độ giáo dục, Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo được đánh giá là văn kiện mang tính đột phá mạnh mẽ nhất từ trước đến nay, đưa giáo dục Việt Nam hòa vào dòng chảy giáo dục thế giới trong kỷ nguyên mới. Đáng chú ý, Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) có hiệu lực từ 1/1/2026, được xây dựng trên cơ sở bám sát các chủ trương của Nghị quyết 71, đánh dấu bước chuyển trong hoàn thiện thể chế, phát triển giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Một điểm nhấn quan trọng trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) là việc chính thức định danh mô hình “Trung học nghề” vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm công nhận vị thế bình đẳng của giáo dục nghề nghiệp. Thay vì phải mất thêm 3 năm học trung học phổ thông với khối lượng kiến thức hàn lâm nặng nề rồi mới học nghề, học sinh có thể chọn hướng đi song hành, vừa hoàn thiện chương trình văn hóa phổ thông, vừa được đào tạo kỹ năng nghề bài bản.
Quy định về Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp trong Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) cũng được coi là một bước đi táo bạo khi tạo ra một sợi dây liên kết bằng lợi ích kinh tế và trách nhiệm pháp lý thông qua Quỹ đào tạo nhân lực. Doanh nghiệp không còn đứng ngoài cuộc với vai trò người sử dụng cuối cùng mà trở thành một nhà đào tạo thực thụ. Quỹ này cho phép doanh nghiệp trích lập một phần kinh phí (có thể được ưu đãi về thuế) để đào tạo lại người lao động, hỗ trợ thiết bị và học bổng cho các trường nghề…
Ở góc độ dân số, dân số Việt Nam đã vượt mốc hơn 101 triệu dân vào năm 2024, với cấu trúc dân số trẻ và lực lượng lao động đông đảo. Đây là thời kỳ dân số vàng, nhưng dân số vàng là “cơ hội có điều kiện” vì cơ hội chỉ trở thành lợi thế thực sự khi thể chế và thị trường lao động được thiết kế linh hoạt, phù hợp với bối cảnh mới. Để tận dụng được cơ hội “dân số vàng” đòi hỏi Chính phủ cần có những chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, tăng năng suất lao động. Trong năm 2025, bên cạnh Luật Dân số được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 đặt ra yêu cầu cấp thiết hoàn thiện thể chế và xây dựng một thị trường lao động linh hoạt, năng động và bền vững để chuyển hóa cơ cấu dân số thuận lợi thành nguồn nhân lực chất lượng, thì một loạt cải cách về thị trường lao động cũng đang được thực thi, nổi bật là việc sửa đổi Luật Lao động và Luật Việc làm, hướng tới mở rộng tham gia bảo hiểm xã hội và thị trường lao động chính thức cho nhiều nhóm lao động. Những thay đổi này nhắm tới thúc đẩy cơ hội việc làm linh hoạt hơn, đặc biệt cho lao động trẻ - nhóm chiếm tỷ lệ lớn trong dân số vàng.
Định hình thị trường lao động mới từ Đại hội XIV của Đảng
Là nội dung trả lời phỏng vấn truyền thông của Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP HCM Trần Anh Tuấn. Theo ông Trần Anh Tuấn, hai nhiệm vụ lớn mà Trung ương đặt ra là đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với chuyển đổi số và xây dựng thể chế quản lý lao động, việc làm phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số có ý nghĩa then chốt đối với phát triển bền vững đất nước.
Từ góc độ là chuyên gia nhân lực có hơn 40 năm gắn bó với công tác quản lý, phát triển thị trường lao động tại thành phố lớn nhất nước, ông Trần Anh Tuấn kiến nghị 4 giải pháp trọng tâm: Thứ nhất là phải đổi mới mạnh mẽ đào tạo nghề theo hướng gắn kỹ năng nghề với kỹ năng số, coi kỹ năng số là năng lực nền tảng cho mọi người lao động, không phân biệt trình độ; Thứ hai là phải đẩy mạnh đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động đang làm việc, đặc biệt là lao động trung niên và lao động kỹ thuật truyền thống, để họ không bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số; Thứ ba là cần sớm hoàn thiện thể chế quản lý lao động trong bối cảnh số, bảo đảm quản lý linh hoạt nhưng vẫn bảo vệ đầy đủ quyền lợi người lao động; Thứ tư là xây dựng hệ sinh thái dữ liệu thị trường lao động, kết nối giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp và cơ quan quản lý để dự báo chính xác nhu cầu nhân lực theo kỹ năng theo từng giai đoạn cụ thể để điều chỉnh kế hoạch đào tạo.