Dấu ấn cải cách và hành trình 'vạn niên cát địa' của vua Minh Mệnh

Dấu ấn cải cách và hành trình 'vạn niên cát địa' của vua Minh Mệnh
Lăng Minh Mệnh. (Nguồn: Cổng thông tin TP Huế)

Giữa thời đoạn biến động khi triều Nguyễn đối diện sức ép từ phương Tây, vua Minh Mệnh không chỉ để lại dấu ấn sâu đậm với những cải cách hành chính mang tính nền tảng, mà còn dành gần 14 năm tìm kiếm “vạn niên cát địa” cho nơi an nghỉ. Hành trình ấy phản chiếu tư duy trị quốc chặt chẽ và tầm nhìn dài hạn của một vị vua vừa quyết đoán cải cách, vừa thấu hiểu quy luật “cõi đi về” của bậc đế vương.

14 năm chọn đất dựng lăng, một đời dựng nền hành chính tập quyền, kỷ cương pháp trị

Chuyện kể rằng, sinh thời, vua Minh Mệnh đã mất 14 năm cho người tìm kiếm nơi an nghỉ của mình khi theo tổ tiên. Đây là một phong tục lo xa của bậc đế vương ngày trước.

Sách Đại Nam thực lục cho biết, nhà vua đã sai quan lớn của triều đình tìm nơi an nghỉ cho mình. Vua từng dụ rằng: “Các thánh đế minh vương đời xưa muốn cầu nhiều phúc đều có dự định đất tốt vạn niên để mong trời cho cơ đồ dài lâu”.

Theo đó, vua sai văn võ Đình thần, Khâm thiên giám và quan địa lý đi tìm nơi cát địa để dựng sơn lăng bắt đầu từ tháng 5/1826 (năm Minh Mệnh thứ 7): “Hạ lệnh cho Đình thần cùng với Khâm thiên giám đi đến miền núi thuộc các xã Kim Ngọc, Định Môn, lựa trước ngôi “Vạn niên đại cát địa” và ngôi “Vạn niên cát địa”, cho được gần chốn khí thiêng mà để lại phúc ấm về sau. Các khanh đều nên hết lòng nhận kỹ, cốt cho thỏa hợp, rồi vẽ địa đồ dâng trình, đợi trẫm thân đến lựa chọn”, Đại Nam thực lục cho biết.

Thông tin từ các tài liệu ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia 1 cho biết, đã có nhiều cuộc tranh luận giữa các quan văn võ Đình thần và Khâm thiên giám về việc chọn xây lăng cho nhà vua.

Các quan Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Huy Tá khen đất xứ Gia Phúc, xã Định Môn là nơi cát địa. Trong khi đó, Khâm thiên giám cho rằng ngôi đất ở xứ Gia Phúc “không có chỗ nước tụ, minh đường chật hẹp, nước sông chảy lệch”.

Đồng thời, Khâm thiên giám khen cuộc đất xứ Nhự Mai phường An Bình do Lê Công Tường tìm được là cát địa. Song, các quan Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Huy Tá gay gắt phản đối vì cho rằng “không thấy chỗ mạch khí dồn thắt”. Quan điểm này được nhiều đại thần như Tống Phước Lương, Trần Lợi Trinh, Hoàng Kim Xán ủng hộ.

Vua Minh Mệnh tiếp tục sai Kiến An công, Định Viễn công đi tìm. Sau lại sai các đại thần Trần Văn Năng, Lương Tiến Tường đi kiểm tra lại thì đều khẳng định xứ Kiều Long, xã Kim Ngọc là nơi vạn niên cát địa.

Sách Đại Nam thực lục cho biết thêm: “Vua lại sai Kiến An công Đài, Định Viễn công Bính cùng với bọn đại thần là Trần Văn Năng, Phan Văn Thúy và Lương Tiến Tường, đi phúc duyệt lần nữa. Khi về họ đều nói: “Trải xem các kiểu đất chỉ có xứ Lẫm Sơn đáng là ngôi “Vạn niên đại cát địa” và xứ Kiều Long đáng là ngôi “Vạn niên cát địa”, ý kiến đều giống nhau”. Lúc đó, vua Minh Mệnh đã nhiều phần ưng thuận. Tuy nhiên, sau 14 năm cân nhắc, vua Minh Mệnh đã nghe theo quan địa lý Lê Văn Đức chọn núi Cẩm Kê thuộc xã An Bằng để dựng lăng phần.

Theo Đại Nam thực lục, khi vua Minh Mệnh đến xem đất bảo rằng: “Núi này phong thủy rất tốt từ trước chưa ai xem ra. Nay mới xem được chỗ đất tốt ấy, thực đáng vui mừng” và đổi tên núi thành Hiếu sơn. Nhà vua sai các quan Bùi Công Huyên, Trương Đăng Quế và Vệ Giám thành đo khám địa cục núi đó để vẽ địa đồ dâng lên ngự lãm.

Tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) bắt đầu dựng lăng ở Hiếu sơn “phát ra binh dân 3.000 người đến khởi công làm. Sai Hiệp biện Đại học sĩ là Trương Đăng Quế, Hộ bộ Thượng thư là Hà Duy Phiên đứng trông nom công việc”.

Và như một sự báo hiệu về số phận, vua Minh Mệnh băng hà khi công trình đang xây dựng. Công trình được tiếp tục khi vua Thiệu Trị nối dõi, ông theo đúng họa đồ kiến thiết sơn lăng của vua cha tiếp tục cho xây dựng. Theo lời Khâm thiên giám, vua Thiệu Trị chọn ngày hiệp cát là ngày mồng một tháng 2 năm 1841 khởi công làm.

Nhà vua giao cho hai Bộ binh, Công điều phái gần 10.000 binh lính và thợ thuyền đến công trình Hiếu sơn làm việc để mong công trình sớm hoàn thiện. Sau đó, ngày 04/2/1841 (năm Thiệu Trị thứ nhất) đã “phái thêm 2 Quản vệ, 40 Suất đội, 2.000 binh lính”. Đến ngày 12 tháng 2, Nội các lại phụng dụ “Truyền cho Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên làm Đổng lý đại thần; lại phái Thự chưởng vệ Lãnh Sự vụ Thượng tứ viện Tôn Thất Đường hiệp đồng với Trần Hữu Lễ, Nguyễn Văn Chương làm Phó Đổng lý đại thần”.

Chỉ sau mấy tháng, các công trình chính của Hiếu lăng đã cơ bản hoàn thành. Bản phụng dụ ngày 19/6/1841 của Nội các cho biết “Kỳ lễ Ninh lăng đã tới gần mà công trình xây dựng Hiếu lăng cũng đã tạm xong”.

Nói về lăng vua cha, Vua Thiệu Trị bày tỏ: “Cuộc đất Hiếu sơn, núi chầu lại, nước chảy quanh, tả hữu bao bọc, khí vượng mạch tốt là nơi thiên nhiên toàn mỹ. Phụng Hoàng khảo ta lúc còn tại vị đã từng lệnh cho quan xem xét mới chọn làm cát địa vạn niên. Trẫm nối theo chí của tiên đế, đặc phái đại thần đến phụ trách việc xây dựng, dựa theo hình thế của núi mà xây dựng điện, lầu, viện, các, đình, tạ. Tất cả đều là tuân theo huấn thị trước kia của Hoàng khảo. Nay đặt tên lăng là Hiếu lăng, trên xây bảo thành, dưới xây địa cung.

Hiếu lăng xây dựng xong vào năm 1843. Lăng được giới hạn bởi vòng la thành dài 1.750m, diện tích 18 héc-ta và vùng cấm địa quanh lăng rộng 475 héc-ta. Tổng thể lăng có khoảng 40 công trình lớn nhỏ, bố trí đăng đối trên một trục dọc theo đường thần đạo dài 700m.

Nhà cải cách vĩ đại của nhà Nguyễn

Trong 2 năm 1831 - 1832, vua Minh Mệnh đã cho xóa bỏ các đơn vị “Thành” và “Trấn”, chia đặt cả nước thành 31 tỉnh. Đây có thể coi nhà vua đã rất vững mạnh về chính trị và nhà Nguyễn đã biết phân bổ quyền lực.

Tống trấn Bắc Thành (cai quản cả 11 trấn Bắc Kỳ) và Gia Định thành (cai quản 5 trấn Nam Kỳ). Thời gian Nguyễn Văn Thành làm Tống trấn Bắc thành và Lê Văn Duyệt làm Tống trấn Gia Định thành, do công lao của hai khai quốc công thần này và uy tín họ quá lớn, nên triều đình nhà Nguyễn không thể kiểm soát nỗi.

“Minh Mệnh có ý thức về vị trí của mình đối với vương triều Nguyễn. Hoài bão của ông là muốn làm “một Lê Thánh Tông của triều Nguyễn”, nhà sử học, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tường - Viện sử học nhận định.

Tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), cuộc cải cách bộ máy hành chính cấp tỉnh được tiến hành từ các trấn ở Quảng Trị, phía bắc kinh đô Huế ra toàn bộ Bắc Kỳ, Minh Mệnh sắp xếp lại các trấn và chia thành 18 tỉnh.

Một năm sau, lại chia tỉnh, đặt quan từ Quảng Nam trở vào trong là 12 tỉnh. Như vậy, trong 2 năm đã có 31 tỉnh (30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên), trong đó có 10 tỉnh lớn, 10 tỉnh vừa và 10 tỉnh nhỏ.

Đồng thời với việc chia tỉnh đã tiến hành cải tổ lại bộ máy quan lại. Các chức Tổng trấn Bắc Thành và Tống trấn Gia Đình thành đã bị xóa bỏ. Các chức Trấn thủ, Hiệp trấn và Tham hiệp đứng đầu các trấn cũng bị bãi bỏ. Nhà vua cho đặt lại chức Tổng đốc, Tuần Phủ, Bố chánh, Án sát và Lãnh binh đứng đầu các tỉnh trong cả nước.

Trong việc sử dụng quan lại để tránh “kéo bè kết cánh”, ỷ thế làm bậy, tha hóa bộ máy hành chính. Nhà vua đã áp dụng triệt để chế độ “Hồi tỵ” (Hồi tỵ nghĩa đen là tránh né), đưa ra quy định như sau: Không được làm quan một trong các địa phương sau đây: Nguyên quán; trú quán; quê mẹ; quê vợ và nơi du học lúc còn trẻ.

Các quan chức đứng đầu như Tổng đốc, Tuần Phủ, Bố chính, Án sát, Lãnh binh, Đốc học thì không được cử người cùng chung một quê. Các lại dịch thuộc các bộ, các nha có bố con anh em ruột, anh em chú bác, người có họ hàng xa và có tình thông gia đều phải hồi tỵ. Các nha môn lớn nhỏ, trong ngoài nếu trong một nhà, người nào có tình thầy trò thân thiết đều phải hồi tỵ.

Cơ quan hành chính gọn nhẹ, củng cố tinh thần pháp trị

Cuộc cải cách của nhà vua đã thu được những kết quả nhất định, dù không phải là hoàn hảo. Tính hợp lý của các cơ quan hành chính thể hiện như việc có mộ viên đại thần cho rằng tỉnh Hưng Hóa quá rộng, xin nhà vua cho phép tách 2 tỉnh, nhưng Minh Mệnh không đồng ý, bởi vì tỉnh rộng nhưng dân số ít, đất canh tác không nhiều. Tách tỉnh rồi phải xây dựng trụ sở, thêm quan lại, mà theo nhà vua, quan càng nhiều càng “nhiễu” dân mà thôi.

Về việc bổ nhiệm quan lại, từ các viên Thượng thư đứng đầu các bộ trong triều đình, các viên Tổng đốc, Tuần phủ đứng đầu mỗi tỉnh đến hàng ngũ các viên Tri phủ, Tri huyện đều do nhà vua bổ nhiệm. Bộ Lại chỉ làm công tác tuyển chọn, thuyên chuyển và thăng giáng hàng ngũ quan lại, chứ không có quyền bổ nhiệm.

Nhà sử học Nguyễn Minh Tường cho biết thêm: “Để bảo đảm cho sự thành công của công cuộc cải cách, vua Minh Mệnh rất chú ý tới vấn đề nhân sự của bộ máy hành chính cấp tỉnh. Trong việc dùng người nhà vua rất quyết đoán và chuyên chế. Tư tưởng pháp trị xuyên suốt thời ông cai trị. Ông ban thưởng khá rộng rãi và sử dụng người có tài và mẫn cán, song cũng nghiêm khắc với tội lỗi của quan lại. Dưới thời Minh Mệnh, việc xử chém các viên quan đại thần tham nhũng và chặt tay những kẻ thủ kho bớt xén của công là chuyện không phải hiếm thấy”.

Tuấn Ngọc