Xúc động chuyện của 'những lá thư không tem' trong tháng Tư lịch sử
Những ngày tháng Tư lịch sử luôn gợi nhắc trong lòng mỗi người Việt Nam niềm tự hào sâu sắc về hành trình đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Có rất nhiều câu chuyện không nằm trong sách vở, mà hiện hữu qua ký ức, qua giọng nói, ánh mắt của các nhân chứng lịch sử, tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, giúp người trẻ hiểu hơn về giá trị của hòa bình.
Nước mắt vẫn rơi trên gương mặt những người lính già
Buổi tọa đàm “Hậu phương và tiền tuyến – Những lá thư không tem” do Bảo tàng Hà Nội tổ chức kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) diễn ra với nhân chứng lịch sử. Đó là người từ tiền tuyến - cựu chiến binh Nguyễn Xuân Thuần; người từ hậu phương - bà Vũ Thị Lui từng là người yêu của liệt sĩ Trần Minh Tiến; và người lưu giữ ký ức - Đại tá, nhà văn, nhà báo Đặng Vương Hưng.
Ba con người, ba hành trình, cùng gặp nhau trong những lá thư. Thư không tem, nhưng chẳng bao giờ lạc lối đã đưa người nghe đi qua các cung bậc cảm xúc đầy xúc động.

Ông Nguyễn Xuân Thuần nguyên là sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp I, từng chiến đấu trong Sư đoàn 308 tại chiến trường Quảng Trị. Ông Thuần là một trong những con người của thế hệ sinh viên Hà Nội gác bút nghiên xung phong ra trận.
Chia sẻ ký ức ngày nhập ngũ, ông Thuần kể lại: “Tôi nhập ngũ ngày 6/9/1971 nên chúng tôi được gọi là đội quân 6971 – đội quân phần lớn hình thành từ lực lượng sinh viên các trường đại học đóng trên địa bàn Hà Nội lúc bấy giờ. Điều đặc biệt ở đội quân này là lễ xuất quân được tổ chức ở sân trường. Có thể nói vì Tổ quốc chúng tôi đã gác bút nghiên lên đường ra trận từ những bước chân đầu tiên ngay chính trên sân trường đại học”.
Theo ông Thuần, ngày ông lên đường vào chiến trường, ông đã giấu gia đình nên không có ai đến tiễn chân: “Tiễn tôi chỉ có hai thầy cô giáo của trường Đại học Nông nghiệp và người em gái đồng hương. Ngay đến người tôi yêu tôi cũng giấu”.
Khi học ở Đại học Nông nghiệp, ông Thuần là sinh viên Khoa Cơ khí đem lòng yêu cô bạn gái sinh viên Khoa Trồng trọt. Khi vào chiến trường, điều kiện viết và gửi thư không nhiều, ông đã trút tình yêu và nỗi nhớ của mình vào những trang nhật ký, những bài thơ: “Bài thơ đầu tiên tôi viết là bài “Nhớ em” với câu mở đầu: “Anh yêu em nhiều lắm…”.

Không chỉ nhờ thơ ca bày tỏ tình yêu, tâm hồn thi sĩ của anh lính Nguyễn Xuân Thuần còn xúc động trước những lá thư không tem của đồng đội ném trắng sân ga để nhờ người dân chuyển giúp đến với người thân. Bài thơ “Lá thư không tem” của ông Thuần có câu: “Có nơi nào như đất nước tôi không/ Thư không tem mà đến tay người nhận/ Đó là lúc lính bọn tôi ra trận/ Xe xuất phát rồi, thư không kịp dán tem…”.
Cảm xúc của khán phòng vỡ òa khi người cựu chiến binh Nguyễn Xuân Thuần giới thiệu về ba người bạn đồng hành cùng mình đến với tọa đàm. Đó là ba người đồng đội năm xưa của ông Thuần: Ông Nguyễn Văn Hạc từng là Tiểu đội trưởng tiểu đội của ông Thuần, năm nay 91 tuổi; người y tá chiến trường Lê Duy Nghĩa năm nay cũng ngoài 90 và người bạn cùng chiến đấu Nguyễn Văn Hào.
Tuổi tác và thời gian đã khiến những người lính già quên đi nhiều thứ. Nhưng tên của những người đồng đội đã hy sinh trên tay họ sau cuộc chiến khốc liệt thì không bao giờ họ có thể quên. Người y tá chiến trường Lê Duy Nghĩa run run nhắc đến tên họ của từng người đồng đội liệt sĩ và nghẹn ngào khóc.

Nước mắt cũng rơi trên mặt người cựu binh Nguyễn Xuân Thuần, Nguyễn Văn Hào và người Tiểu đội trưởng năm xưa Nguyễn Văn Hạc, bởi những đồng đội của họ đã không còn cơ hội trở về để thực hiện lời hẹn ước hết chiến tranh sẽ về cầm lại bút nghiên học tập. Linh hồn họ đã hóa thành hồn thiêng đất nước. Cả khán phòng lặng đi trong phút giây đầy xúc cảm…
Ông Nguyễn Xuân Thuần cho biết, hàng năm, cứ vào ngày 6/9, để kỷ niệm ngày nhập ngũ, ông và các đồng đội vẫn tổ chức buổi gặp mặt: “Tất cả lính 6971 đều có kỷ niệm chương hình chiếc mũ cối úp trên quyển vở đang mở ra và con số 6971, biểu tượng của những người lính sinh viên gác bút nghiên ra trận”.
Có một tình yêu lặng thầm ở phía sau trận chiến…
Nếu tiền tuyến là nơi đối diện với cái chết, thì hậu phương là nơi lặng thầm chịu đựng những khoảng trống và những chờ đợi kéo dài trong vô định. Câu chuyện của bà Vũ Thị Lui (còn gọi là Vũ Lưu Liên) và liệt sĩ Trần Minh Tiến đã đưa người nghe chạm đến một góc khác của chiến tranh, nơi tình yêu không ồn ào nhưng sâu nặng và bền bỉ. Mối tình giữa bà và liệt sĩ là một bản tình ca dang dở, được viết nên bằng những lần gặp gỡ vội vàng và những lá thư chất chứa nhớ thương.

Bà Vũ Thị Lui xúc động kể tại tọa đàm: “Tôi vẫn nhớ như in những năm tháng ấy, tình yêu của tôi và anh Tiến gói gọn trong 109 lá thư và những lần gặp mặt ngắn ngủi đếm chưa hết hai bàn tay. Đầu năm 1968, chúng tôi đã tính chuyện trăm năm, nhưng tiếng súng chiến tranh gọi anh vào chiến trường miền Nam khi lễ cưới còn chưa kịp diễn ra. Trước lúc chia xa, anh trao cho tôi chiếc nhẫn đính ước làm từ xác máy bay Mỹ có hình hai trái tim lồng nhau”.

Bà Lui cũng tặng người yêu của mình một chiếc khăn tay có hình bông hồng màu tím và tên của bà trong ngày chia tay. Nhận khăn, ông Trần Minh Tiến dặn dò người yêu nếu ở hậu phương nhận được chiếc khăn tay do người khác trao lại, nghĩa là ông đã hy sinh, ở nhà hãy đi lấy chồng. Bức thư cuối cùng mà ông Trần Minh Tiến viết cho người yêu đề ngày 27/5/1968. Sau đó mấy ngày, ngày 31/5/1968, liệt sĩ Trần Minh Tiến hy sinh tại mặt trận Khe Sanh, Quảng Trị sau một trận đánh ác liệt. Nhận được giấy báo tử của người yêu, bà Vũ Thị Lui nghẹn ngào, đau đớn…
Và cũng kể từ đó lòng bà nguội lạnh và chẳng còn nghĩ đến chuyện tình cảm, dù ông Nguyễn Doãn Hùng, cũng là một người lính, đồng cảm với mối tình chân thành, muốn bù đắp cho bà.

Bà kể tại tọa đàm, một lần bà nằm mơ liệt sĩ Tiến về báo mộng, khuyên bà hãy lấy ông Hùng làm chồng thì mới yên tâm ra đi. Đám cưới của bà diễn ra vào cuối năm 1969. Đã lấy chồng nhưng bà Liên vẫn luôn dành tình cảm cho liệt sĩ Trần Minh Tiến. Ông Nguyễn Doãn Hùng yêu thương bà Liên và rất trân trọng quá khứ của vợ.
Cuối năm 1971, miền Bắc bị lụt, cả gia đình phải sơ tán, trong lúc lo chạy nước lũ, ông Hùng đã bỏ lại nhiều tài sản quý giá, quần áo của mình và chỉ mang theo chiếc va li đựng kỷ vật thư, nhật ký, ảnh của liệt sĩ Trần Minh Tiến về cho vợ.
Cựu chiến binh Nguyễn Doãn Hùng người chồng tâm lý của bà Vũ Thị Lui đã ra đi vào một ngày đầu năm 2026. Tiễn biệt ông, nhà văn Đặng Vương Hưng đã viết trên trang FB cá nhân: “Ở thế giới bên kia, nơi xa ấy, ông sẽ có điều kiện gặp liệt sĩ Trần Minh Tiến. Họ sẽ kể cho nhau nghe, về những câu chuyện cảm động, xung quanh cô gái Lưu Liên xinh đẹp năm xưa, mà cả hai người cùng đem lòng yêu tha thiết...”.
Gặp chồng, bà Lui ngạc nhiên hỏi: “Sao anh không mang đài và quạt”. Ông Hùng đáp: “Những thứ đó trôi mất thì còn sắm được, còn kỷ vật của liệt sĩ mà lỡ mất, thì em sẽ giận anh suốt đời”. Bà Lui ôm chầm lấy chồng bật khóc. Từ giờ phút đó, bà đã hiểu ra tình cảm của ông Hùng dành cho mình to lớn như thế nào…
Từ năm 2000, với sự ủng hộ của gia đình, bà Vũ Thị Lui đã dành 8 năm băng rừng lội suối để tìm hài cốt liệt sĩ Trần Minh Tiến và bà đã tìm thấy. Hiện liệt sĩ đã được đưa về an táng tại Nghĩa trang Đường 9, Quảng Trị.
Để những người trở về bằng tâm hồn với gia đình, người thân của mình
Câu chuyện tình yêu của ông Trần Minh Tiến và bà Vũ Thị Lui đã được xuất bản trong cuốn sách “Những lá thư tình đi qua chiến tranh”. Đại tá, nhà văn, nhà báo Đặng Vương Hưng là người chắp bút cho cuốn sách và tại tọa đàm “Hậu phương và tiền tuyến – Những lá thư không tem”, sự xuất hiện của ông Đặng Vương Hưng cũng là một trong những điểm nhấn của chương trình.

Kể lại vài nét trong hành trình đã có 10 năm khoác áo lính của mình ở cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và mong muốn sưu tầm những kỷ vật, lá thư của những người lính nơi chiến trường và người thân của họ ở quê nhà “để những người lính không chỉ trở về bằng hài cốt mà họ còn trở về bằng tâm hồn với gia đình, người thân của mình”, Đại tá, nhà văn, nhà báo Đặng Vương Hưng - tác giả của tuyển tập nổi tiếng “Những lá thư thời chiến Việt Nam” cho biết đã dành hơn 20 năm sưu tầm, lưu giữ và nghiên cứu các tư liệu thư từ, nhật ký của những người lính và thanh niên trong thời kỳ kháng chiến.
Dưới góc độ của một người cầm bút và cũng là một người lính bước ra từ khói lửa chiến tranh, ông Đặng Vương Hưng thấu hiểu sâu sắc rằng, đằng sau mỗi con chữ nhòe đi vì dấu thời gian không chỉ là thông tin liên lạc đơn thuần.
“Với tôi, mỗi lá thư thời chiến là một số phận đang lên tiếng. Đó là những trang nhật ký sống động nhất, trung thực nhất về tâm hồn người lính giữa lằn ranh sinh tử. Khi cầm trên tay những trang giấy mỏng manh, vàng ố, tôi không chỉ đọc chữ, mà còn đọc được cả nhịp đập trái tim của một thế hệ. Chúng là di sản phi vật thể vô giá, minh chứng rằng dù chiến tranh có khốc liệt đến đâu, tình yêu và lý tưởng vẫn là thứ không bao giờ bị dập tắt”, ông Đặng Vương Hưng chia sẻ.

Cũng theo ông Đặng Vương Hưng tín hiệu vui là rất nhiều bạn trẻ nhiệt tình tham gia dự án này và công cuộc sưu tầm những kỷ vật, lá thư của những người lính nơi chiến trường đang được mở rộng tới kho tư liệu của các cựu chiến binh Mỹ.
Không dừng lại ở những trang sách in, ông Đặng Vương Hưng cùng các cộng sự trẻ đang ấp ủ một dự định mang tính thời đại: xây dựng một “Bảo tàng ký ức chiến tranh” trên nền tảng số. Đây là nỗ lực nhằm thiết lập một hệ sinh thái di sản trực tuyến, nơi những lá thư, kỷ vật và những câu chuyện “không tem” được hồi sinh thông qua công nghệ của đương đại để dù ở bất cứ đâu mọi người cũng có thể “chạm” vào lịch sử dân tộc bằng tất cả sự thấu hiểu và trân trọng.
“Chúng tôi hy vọng sẽ góp công sức nhỏ bé của mình vào “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” của Đảng và Nhà nước, là sự kiện có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn đặc biệt sâu sắc, là hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2027), thể hiện quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện trách nhiệm thiêng liêng đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc”, ông Hưng nhấn mạnh.
… Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bài thơ “Đất nước” đã viết: “Em ơi em/Đất nước là máu xương của mình/Phải biết gắn bó san sẻ/Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở/Làm nên đất nước muôn đời...”. Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, từ hậu phương đến tiền tuyến, đã có rất nhiều những người con gái, con trai đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình để san sẻ, hoá thân cho dáng hình xứ sở, làm nên đất nước muôn đời.
Những câu chuyện về họ, không bao giờ chúng ta được phép quên, như những “ngọn gió và tình yêu mãi thổi trên đất nước tôi” mà nhà thơ Lưu Quang Vũ đã từng viết…