Xuân sang gieo một quẻ Kiều

Xuân sang gieo một quẻ Kiều
Bộ Tarot đầu tiên minh họa dựa trên nội dung tác phẩm “Truyện Kiều” cũng là một cách “bói Kiều” mới của những người trẻ sáng tạo. Đây là kết hợp giới thiệu triết lý Tarot trong sự đối sánh với “Truyện Kiều”.

Với người Việt xưa, “Truyện Kiều” là “món ăn tinh thần” gần gũi với đời sống thường ngày. Từ tác phẩm này, dân gian còn có các hình thức bói Kiều, đố Kiều rất phong phú.

Bói Kiều theo tinh thần chiêm nghiệm

Trong cuốn “Việt Nam phong tục”, học giả Phan Kế Bính (1875 - 1921) viết về tục bói Kiều như sau: “Bói Kiều là mình có việc gì muốn được biết hay dở đường nào thì khấn với Thúy Kiều, Kim Trọng xin cho mấy câu dòng nào, gặp chỗ nào thì lấy mấy câu thứ mấy ở trang ấy mà đoán. Cách này là một cách bói chơi, nhưng cũng nhiều khi nhiều người cho là nghiệm”.

Trong bộ thẻ “Ngày xuân Bói Kiều” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh có bày tỏ rằng: Tại làng Mai, ai bói Kiều cũng tấm tắc khen là linh nghiệm. Quy trình cũng như nghi lễ bói Kiều cũng rất thành kính, vừa có chất chiêm nghiệm lại có tính thiền: Muốn tham vấn, phải tới trước bàn thờ Phật và tổ để lạy ba lạy thật cung kính, rồi ngồi xuống đặt tay vào thành chuông, thở ba lần rất chánh niệm rồi đưa tay vào chuông bốc lên một quẻ. Quẻ ấy được trao cho vị có nhiệm vụ đoán quẻ. Vị này là một người có kiến thức về văn chương “Truyện Kiều”, có khiếu tâm lý và nhận xét và nhất là có kiến thức Phật pháp và kinh nghiệm tu tập.

Bộ thẻ “Ngày xuân Bói Kiều” gồm 210 thẻ, được trình bày theo thẻ số thứ tự và có các câu Kiều tương ứng, kèm theo có 84 trang diễn giải ý nghĩa trong câu Kiều.

Bộ thẻ “Ngày xuân Bói Kiều” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Bộ thẻ “Ngày xuân Bói Kiều” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Về cách đoán quẻ, thường thường ở làng Mai, các thầy, các sư cô và các vị cư sĩ hay theo phương pháp sau đây:

Trong hai câu lục bát, có thể một câu là nhân và một câu là quả. Quả có thể là đã phát sinh trong hiện tại hay là điều mong ước trong tương lai. Nhân là lời khuyên về cách hành xử và tu tập để chuyển hóa hay thực hiện. Ví dụ: “Trong như tiếng hạc bay qua” là tâm an tĩnh của mình được xem là quả hiện tại. Nhân của quả ấy là “Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng”, nghĩa là đã biết thân cận với Tam Bảo và xa lìa những môi trường nguy hiểm.

Cũng thế, như ở các quẻ 48 và 78, câu 8 là nhân, câu 6 là quả và ở các quẻ 93 và 100, câu 6 là nhân và câu 8 là quả. Có khi trong một câu 8, bốn chữ đầu là nhân, bốn chữ sau là quả, hay ngược lại. Nghĩa lý trong quẻ không cần đi theo nghĩa lý “Truyện Kiều”. Ví dụ: “Lòng còn gửi áng mây vàng” không hẳn phải giải là đương sự còn tưởng nhớ quê hương mà có thể giải là lý tưởng tu học vẫn còn vững mạnh, bồ đề tâm vẫn còn nguyên vẹn, vì mây vàng ở đây có thể được xem là lý tưởng cao siêu của đạo Bụt, của ánh đạo vàng.“Song thu đã khép cánh ngoài” có nghĩa là đừng nên để tâm tới những chuyện thế gian, phải tập trung tâm ý vào việc tu học. “Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân”, theo tinh thần của Quy Sơn Cảnh Sách, là phải nương tựa vào các vị thiện tri thức lớn. Nói tóm lại thì các quẻ đoán đều có tác dụng an ủi, khuyến khích và soi sáng cho người xin quẻ trên con đường tu tập.

Vì sao chỉ “Truyện Kiều” mới dùng để coi bói được?

Theo TS La Mai Thi Gia, Trưởng bộ môn Văn hóa dân gian - Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP HCM lý giải việc bói Kiều trong dân gian: “Có lẽ do lúc ban đầu, người đọc nhận thấy nhiều câu trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có thể mô tả chính xác tâm trạng của mình trong những bối cảnh cụ thể nào đó, như thể thi nhân đã thấu hiểu cả tâm can của mình một cách đáng kinh ngạc nên họ đã tìm đến “Truyện Kiều” để tìm lời giải đáp cho những dự báo về tương lai”.

“Truyện Kiều” là cuốn sách của cuộc đời, từ quan hệ gia đình, xã hội, lại có đủ hạng người tốt xấu, từ cao đến thấp, đủ nghề nghiệp… Tác phẩm thể hiện đủ vui buồn của loài người. Một tác phẩm bao trùm phận người như vậy nên dân chúng coi bói Kiều là cách trải nghiệm lý thú về chính mình.

Bói Kiều là một cách chơi, cũng có xem là thưởng ngoạn chữ nghĩa “Để xem con tạo xoay vần ra sao?”. Người bói Kiều là người hiểu “Truyện Kiều”, biết lý giải chữ nghĩa, điển tích, không mê tín như đi xem bói, thầy cúng, hay lên đồng… Người bói Kiều hay thực hiện cô độc một mình hoặc chỉ bói cho người thân trong gia đình. Nó là một thú chơi chữ, tao nhã, sang trọng, lễ nghĩa của dân học thức.

 TS La Mai Thi Gia. (Ảnh: NVCC)
 TS La Mai Thi Gia. (Ảnh: NVCC)

Bói Kiều là một cách chơi, cũng có xem là thưởng ngoạn chữ nghĩa “Để xem con tạo xoay vần ra sao?”. Người bói Kiều là người hiểu “Truyện Kiều”, biết lý giải chữ nghĩa, điển tích, không mê tín như đi xem bói, thầy cúng, hay lên đồng… Người bói Kiều hay thực hiện cô độc một mình hoặc chỉ bói cho người thân trong gia đình. Nó là một thú chơi chữ, tao nhã, sang trọng, lễ nghĩa của dân học thức.

Theo TS La Mai Thi Gia, thủ tục bói Kiều diễn ra như sau: “Người bói cầm cuốn sách bằng hai tay, thắp một cây nhang và nhắm mắt vái: Lạy Phật Thích Ca, lạy ma Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều, lạy cụ Nguyễn Du cho con xin một quẻ, con tên là, bao nhiêu tuổi, ở đâu, con muốn được giải đáp về… Tất cả đều khấn thầm trong lòng, người giải câu Kiều sẽ không được nghe người bói cầu xin hay hỏi về vấn đề gì.

Ngắn gọn hơn thì chỉ cần khấn 4: “Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều, lạy cụ Nguyễn Du”. Tuy nhiên, có những vùng, câu khấn còn được đọc hẳn thành một bài đồng dao, như: “Thúy Vân, Thúy Kiều/Vương Quan, Kim Trọng/Ông bà Viên ngoại/Từ Hải, Giác Duyên/ Sống khôn chết thiêng/Về đây bói quẻ/Thấy hoa đừng bẻ/Thấy trẻ đừng chơi/Thấy quán đừng ngồi/Về đây mà gieo quẻ…”. Rồi sau đó người cần bói mới xưng tên họ và điều cầu xin của mình. Khấn xong thì lật quyển Kiều ra, dùng ngón tay cái trái hoặc phải của mình ấn vào bất kỳ vị trí nào trong cuốn sách, cặp lục bát nơi ngón tay ấn vào chính là câu Kiều ứng vào quẻ của người bói.

Người giải sẽ dùng hai câu Kiều đó để giải đáp và lúc này câu Kiều chỉ có ý nghĩa về mặt văn bản, hoàn toàn tách khỏi nội dung, tình cảnh của nàng Kiều cũng như số phận và tính cách của các nhân vật trong truyện. Do vậy, có những lời giải gần như ngược lại sự kiện diễn ra trong “Truyện Kiều” đã được miêu tả bằng chính hai câu lục bát đó. Chẳng hạn, khi người bói xin được hai câu: “Lo gì việc ấy mà lo/Kiến trong miệng chén có bò đi đâu”. Nội dung của hai câu này thực ra là tin xấu (đối với nhân vật Thúy Kiều trong cốt truyện), nhưng lời của người giải câu Kiều ấy lại theo hướng tốt: Những băn khoăn của người coi bói trong năm tới đều không đáng lo, cái gì cũng có thể hóa giải được và cái gì thuộc mình sẽ không thể mất đi, kiểu “kiến trong miệng chén có bò đi đâu”.

Một cách tìm điểm tựa cho lòng tin

Nói về bói Kiều và ký ức ngày Tết, TS La Mai Thi Gia bộc bạch: “Cho đến bây giờ, dù xa quê hương đã hơn 20 năm, không còn mấy khi về quê ăn Tết để xin ba bói cho một quẻ Kiều nữa nhưng tôi vẫn còn giữ thói quen tìm đến “Truyện Kiều” của cụ Nguyễn Du khi lòng có những băn khoăn cần chỉ dẫn, không chỉ vào dịp Tết mà vào bất cứ thời gian nào trong năm. Tôi học cách giải Kiều của ba tôi và thầy tôi, rời xa nghĩa văn bản, rời xa cuộc đời 15 năm lưu lạc và bất trắc của Kiều, tự chọn cho mình cách hiểu đầy niềm tin về những điều lành sẽ tới. Mới hôm qua đây thôi, trước những lo âu mất ăn, mất ngủ về bệnh tình của mẹ cha, tôi lại tìm đến với Kiều và gặp câu thơ sum họp: “Một cây cù mộc, đầy sân quế hòe””.

TS La Mai Thi Gia chia sẻ rằng ba chị đã bói Kiều cho chị và chị có nhiều kỷ niệm từ thời đi học cho đến bây giờ

“Năm tôi thi đại học, giao thừa ấy tôi xin trúng hai câu: “Thông minh vốn sẵn tính trời/Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm” (Nguyễn Du miêu tả tài sắc Thúy Kiều ở đầu truyện). Ba tôi giải rằng tôi vốn được trời cho nhanh nhẹn học đâu biết đấy, giờ chỉ cần “pha nghề thi họa đủ mùi” nghĩa là cố gắng mở rộng kiến thức, đọc thêm sách thì sẽ thi đâu đậu đó. Tôi không biết ba tôi có nói cho tôi yên tâm thi cử hay không nhưng lòng tôi đầy tin tưởng và học hành mê say hơn, tin chắc chiếc vé vào đại học đã có tên mình. Cũng trong cái Tết đó, có một bác gái gần 70 tuổi ở trong xóm đến nhờ ba tôi bói Kiều. Bác xin được câu: “Dùng dằng nửa ở nửa về/Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần” (Nguyễn Du tả cảnh Thúy Kiều đi tảo mộ, chuẩn bị về thì gặp Kim Trọng). Ba tôi hỏi: Có phải bác tính đi đâu xa mà lòng còn chưa quyết được hay không? Bác khai thật là tính chuyển vào Nam ở với con gái vì nhà nó neo người, lại mới sinh con nhưng còn vướng ông chồng nhất định không chịu xa quê”.

“Hay năm tôi sắp bảo vệ tiến sĩ, đã gần 5 tháng mà người phản biện độc lập chưa gửi lại kết quả nhận xét cho trường, tôi lo lắng vô cùng. Mồng 6 Tết, chúng tôi tụ tập đến chúc Tết thầy tôi và thầy lại mang “Truyện Kiều” ra cho chúng tôi bói. Anh đồng nghiệp tôi xin được câu: “Đùng đùng gió giục mây vần/Một xe trong cõi hồng trần như bay” (Nguyễn Du tả chiếc xe hoa của Mã Giám Sinh rước cô dâu Thúy Kiều như dự báo những chuỗi ngày bão tố trước mắt). Không ai trong chúng tôi biết là anh hỏi điều gì nhưng thầy tôi giải là “có khi năm nay em sẽ đi nước ngoài”. Anh bạn hết hồn vì đúng là khi bói anh có hỏi về việc xin đi nghiên cứu ngắn hạn ở nước ngoài và giữa năm ấy anh đi thật. Còn tôi thì xin được câu: “Dù khi gió kép mưa đơn/Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì” (Lời Sở Khanh hứa sẽ mang Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh). Thầy không hề biết tôi hỏi về luận án, thầy giải là “Thi Gia cứ yên tâm, làm gì cũng sẽ có người hỗ trợ em, mọi việc em mong đều thuận lợi”. Và năm ấy tất cả những thứ tôi mong chờ đều được hanh thông thật”, TS Thi Gia kể lại.

Tuấn Ngọc