Xóm chài ngày mới (kỳ 1)
Anh Bùi Khắc Thọ chẳng biết đến thế hệ anh là đời thứ bao nhiêu làm dân vạn chài nữa, chỉ biết từ đời ông nội, rồi bố anh đã làm dân vạn chài: “ Mơ ước lớn nhất của tôi là có mảnh đất cắm dùi để ổn định cuộc sống”... Từ năm 2007 người dân xóm chài phường Ngọc Sơn đã được sử dụng điện và nước sạch; xóm chài bớt vẻ hoang vu khu những mảnh vườn con con trồng chuối trồng mía bắt đầu xanh lá trên đất bãi ven sống.
Lênh đênh phận dân chài
Chúng tôi đến xóm chài phường Ngọc Sơn (quận Kiến An) vào một ngày đầu đông. Con đường vào xóm gập ghềnh đất đá, chênh vênh trên đê đất đỏ. Vượt qua hai con dốc thì đến xóm. Xóm chài nhếch nhác, nghèo khó nằm lọt thỏm dưới sườn đê, bên sông Lạch Tray, hiu hắt vài nóc nhà tạm bợ với khoảng hơn chục con thuyền bé nhỏ, xơ xác.
Tính đến tháng 11 năm 2008, xóm chài có 16 hộ dân. Số hộ này di cư từ các vùng lân cận đến Hải Phòng (chủ yếu là từ tỉnh Hải Dương chuyển đến). Số hộ dân thường dao động do tính chất “nay đây, mai đó” của nghề chài. Không có nhà, không ổn định về nơi ở, tất cả các hộ dân xóm chài đều không có hộ khẩu, không có chứng minh nhân dân, không có đăng ký kết hôn, và cách đây một năm, tất cả đều không có giấy khai sinh…Xóm chài là một tập thể người dân công giáo, một “gia đình lớn” với những mối liên hệ dòng họ chằng chịt. Do nơi ở và đặc điểm công việc khá tách biệt với khu dân cư chung quanh, nên việc tiếp cận các nguồn lực xã hội và cơ hội thiết lập các mối quan hệ với cộng đồng hạn chế. Lấy thuyền làm nhà, nên mọi sinh hoạt, ăn uống, ngủ nghỉ, đánh bắt cá, tôm... đều diễn ra trên chiếc thuyền dài chừng 5m, rộng chưa đầy 2m, được che nắng, mưa bằng những tấm phên nứa, gỗ, vải bạt.
Chúng tôi vào thăm “nhà” “trưởng xóm” Bùi Khắc Thọ. Gọi là “nhà” cho oai, thực ra là một cái chòi lụp xụp dựng trên 6 chiếc cọc gỗ quặt quẹo anh vớt được trên sông. Vách chòi được ghép bằng những thanh gỗ cũ kỹ, mục nát. Chỗ nào hở, anh vá bằng chất liệu tạp nham như miếng vải cũ, mảnh áo mưa rách, thậm chí cả thảm chùi chân cũ cũng được anh tận dụng làm miếng vá cho “bức tường”. Góc chòi treo vài bộ quần áo cũ kỹ, bạc màu, bên ngoài “hành lang” lủng củng mấy đôi đũa, đống bát sứt mẻ, cùng can nước dùng trong sinh hoạt. Ngồi trong “nhà”, gió dưới sông lùa lên thông thống, lạnh buốt...Anh Thọ phân bua: “Dân chài nghèo lắm, gia tài chẳng có gì đâu. Nhà nào giàu nhất thì có chiếc ti vi, còn lại mù tịt về thông tin. Bữa ăn lo chạy từng ngày theo nhịp sông nước, nên nghèo cứ hoàn nghèo”. Anh Thọ năm nay 42 tuổi, gia đình có 5 người vợ chồng và 3 đứa con. Anh Thọ bảo, cụ thân sinh ra anh sống trên thuyền, vì vậy đến đời anh, sống trên thuyền cũng như một định mệnh. Nói chuyện làm ăn, vợ anh, chị Trần Thị Duyên ngậm ngùi: “Hôm nào may mắn được vài chục nghìn đồng, vào mùa đông hay lúc mưa bão thì đói hẳn. Sống trên sông nước, làm được từng nào ăn từng ấy, bữa đói nhiều hơn bữa no. Đứa út cứ đòi bỏ học để kiếm tiền phụ giúp bố mẹ, chúng tôi động viên con đi học, dù nghèo cũng cố gắng nuôi con ăn học. Nhưng nói là vậy, chẳng biết có kham đủ không. Dạo trước, anh Thọ lặn sông kiếm phế liệu, có hôm ngoi được lên bờ trào cả máu mũi vì sức ép của nước. Dạo này, sức khoẻ yếu, anh ấy không lặn nổi nữa rồi…”. Chị Duyên bỏ lửng câu nói, đôi mắt ngấn nước nhìn ra phía dòng sông đục ngầu, ngun ngút gió…
Sống bám vào sông nước trong khi nguồn thuỷ sản ven bờ ngày một cạn kiệt, dân xóm chài có người bỏ nghề, tìm vào nội thành làm thuê, nhưng cũng chẳng khá hơn, rồi lại lũ lượt kéo nhau về bám víu cái nghiệp của cha ông vì nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là “ngắn” học.
Cả nhà chị Lê Thị Thuý có 6 miệng ăn, ngồi quây tròn bên mâm cơm chỉ có rau muống luộc và bát cà muối. Chị than: “May mà trồng được rau bên bờ sông. Thỉnh thoảng đánh con tôm, con tép thêm thắt vào bữa ăn hằng ngày, chứ không thì chết đói”. Nhìn nồi cơm nhà chị, chúng tôi không khỏi chạnh lòng, cơm vàng như ngô, hạt nở bung. Bốn đứa con chị nhỏ thó, gầy và đen nhẻm, cúi mặt ăn cho xong bữa. “Bọn trẻ ăn cực thế, tôi không sao cầm lòng được, nhưng biết làm sao? Bố mẹ nghèo thì con khổ” - chị Thuý đưa tay quệt nước mắt, nghẹn ngào nói. Màn đêm vừa buông, hai vợ chồng chị Thuý lọ mọ chuẩn bị chài lưới, rẽ “nhà thuyền” đi dọc sông Lạch Tray quăng lưới bắt cá, tôm, tép. Ban ngày cũng lênh đênh trên dòng sông này vớt phế liệu; đôi khi kiếm được mối, anh chị lên bờ làm phụ hồ, cửu vạn. Cực khổ là vậy, nhưng thu nhập chẳng là bao. Gom góp công sức của cả hai vợ chồng làm quần quật từ sáng tới đêm cũng chỉ được 40-50 nghìn đồng. Vợ chồng chị luôn phải gồng mình mà bốn con nhỏ vẫn bị đứt bữa.
Thanh Thủy