Xây dựng văn hóa công nhân gắn với phát triển văn hóa Việt Nam: Bài 1 - Những gam màu sáng và tối
Trong “dòng chảy” công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công nhân không chỉ là lực lượng chủ lực tạo ra của cải vật chất mà còn là chủ thể quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, giữa “ánh sáng” của những con số tăng trưởng kinh tế, đời sống văn hóa của người công nhân hiện nay vẫn đang tồn tại những gam màu đối lập, đòi hỏi một chiến lược định hình lại theo tinh thần Nghị quyết 80/NQ-CP.
Vòng lặp cuộc sống
Nước ta, với hàng trăm khu công nghiệp (KCN) trải dài từ Bắc chí Nam, đây là nơi tập trung nguồn nhân lực khổng lồ, tuy nhiên, không khó để bắt gặp hình ảnh hàng triệu công nhân ngày ngày lặp lại một vòng quay quen thuộc: từ phòng trọ đến nơi làm việc rồi lại trở về phòng trọ. Cuộc sống của họ chủ yếu xoay quanh hai không gian chật hẹp này, khiến mọi nhu cầu vui chơi, giải trí trở nên xa xỉ.
Một trong những trường hợp điển hình, là anh Vũ Đức Vương, công nhân tại Khu công nghiệp Nội Bài. Hơn 20 năm anh Vương gắn bó với công việc công nhân, vợ chồng anh hiện có tổng thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng. Với ba con nhỏ, tiền thuê trọ, sinh hoạt và nuôi con gần như đã chi hết thu nhập. Vì thế, những nhu cầu vui chơi, giải trí hay cải thiện đời sống tinh thần đành phải gác lại.
Hay như chị Nguyễn Thị Hiền, hiện làm việc tại Khu công nghiệp Thạch Thất, chị Hiền chia sẻ, bản thân chị rất thích các hoạt động văn nghệ, thể thao. Nhưng do đặc thù công việc làm theo ca kíp, thường xuyên tăng ca, chị gần như không còn thời gian để tham gia. Sau giờ làm, chị chỉ muốn nghỉ ngơi, nếu có thời gian thì xem điện thoại, nghe nhạc, đọc tin tức. Cuộc sống cứ xoay quanh nơi ở và nơi làm việc, lâu dần cũng thành quen.
Sau một ngày làm việc kéo dài, nhiều người phải tăng ca để có thêm thu nhập trang trải chi phí sinh hoạt, khiến quỹ thời gian dành cho bản thân gần như không còn. Tại KCN Nội Bài hay Thạch Thất (Hà Nội), những công nhân như anh Vương, chị Hiền đều rơi vào cảnh “lực bất tòng tâm”: dù rất muốn tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao nhưng đặc thù ca kíp và áp lực mưu sinh đã triệt tiêu mọi cơ hội.
Khi không có thời gian và không gian sinh hoạt cộng đồng, hình thức giải trí duy nhất của công nhân sau giờ làm là chiếc điện thoại thông minh. Họ xem tin tức, nghe nhạc đơn độc tại phòng trọ để hồi sức cho ca làm việc hôm sau, khiến sợi dây kết nối văn hóa trực tiếp dần bị đứt gãy.

“Đòn bẩy” từ chính sách và hệ thống thiết chế
Nhận thức rõ thực trạng này, từ lâu nay, việc xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa ở cơ sở đã là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, được đặt ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (năm 1982) và liên tục được cụ thể hóa qua các thời kỳ. Đáng chú ý, Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư ban hành năm 2016 đã nhấn mạnh yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác nâng cao đời sống tinh thần cho công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Đặc biệt, gần đây nhất là Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục tạo ra cách tiếp cận mới khi xác định rõ mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045 là “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hoá giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khẳng định vị thế văn hoá của quốc gia phát triển có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hoá - sáng tạo năng động…”
Điểm đáng chú ý là nghị quyết này tập trung tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, nguồn lực và hạ tầng. Trong đó, cần xây dựng, phát triển hệ sinh thái văn hoá mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, có sức mạnh dẫn dắt, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững. Doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá, công nghiệp sáng tạo và giải trí là động lực then chốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo văn hoá. Người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm của đổi mới sáng tạo văn hoá, đồng thời thụ hưởng trực tiếp giá trị và thành quả của văn hoá, tạo điều kiện hình thành tầng lớp công chúng văn hoá hiện đại, gắn với môi trường số và đổi mới sáng tạo.
Với Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, không chỉ dừng lại ở việc “có” thiết chế, cách tiếp cận mới còn hướng tới việc người lao động thực sự được thụ hưởng. Nếu nhìn rộng ra thì điều này đòi hỏi các hoạt động văn hóa phải phù hợp với đặc thù của công nhân như thời gian làm việc theo ca kíp, nhu cầu nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động. Khi những rào cản về cơ chế được tháo gỡ, các không gian văn hóa sẽ có điều kiện vận hành linh hoạt hơn, gần gũi hơn với đời sống công nhân.