Xây dựng Nông thôn mới Hà Nội 2026-2030: Phân nhóm xã, tạo tiền đề xây dựng mô hình nông thôn mới hiện đại
Hà Nội vừa ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030 với yêu cầu cụ thể đối với từng nhóm xã. Việc phân nhóm nhằm bảo đảm các tiêu chí phù hợp với mức độ phát triển của từng địa bàn, đồng thời nâng chuẩn về hạ tầng, kinh tế, môi trường, chuyển đổi số, từng bước xây dựng nông thôn Thủ đô theo hướng hiện đại.
Phân nhóm xã, mỗi nhóm một “ngưỡng” nông thôn mới
UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Đây là căn cứ để đánh giá thực trạng và mức độ đạt các tiêu chí đối với các xã trên địa bàn Hà Nội, đồng thời làm căn cứ thẩm định, xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Bộ tiêu chí được xây dựng với 10 tiêu chí, gồm: Quy hoạch; hạ tầng kinh tế xã hội; phát triển kinh tế nông thôn; đào tạo nguồn nhân lực nông thôn; văn hóa, giáo dục, y tế; giảm nghèo và an sinh xã hội; khoa học công nghệ và chuyển đổi số; môi trường và cảnh quan nông thôn; xây dựng hệ thống chính trị và hành chính công; tiếp cận pháp luật và an ninh, quốc phòng.

“ Đối tượng áp dụng đối với các sở, ban, ngành, đoàn thể Thành phố, Ủy ban nhân dân các xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình triển khai Bộ tiêu chí xã nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 – 2030”.
Điểm đáng chú ý là các tiêu chí không áp dụng một mức yêu cầu giống nhau cho tất cả các xã. Phụ lục Bộ tiêu chí của Hà Nội quy định yêu cầu riêng đối với xã nhóm 1 và xã nhóm 2, bên cạnh những chỉ tiêu chung.
Cụ thể, về quy hoạch, đối với xã nhóm 1, trường hợp xã có địa giới hành chính nằm hoàn toàn trong phạm vi quy hoạch phát triển đô thị phải có quy hoạch phân khu đô thị được phê duyệt, được công bố công khai đúng thời hạn. Trường hợp xã có một phần hoặc toàn bộ địa giới hành chính nằm ngoài phạm vi quy hoạch phát triển đô thị phải có quy hoạch chung xã, được công bố công khai đúng thời hạn và ban hành kế hoạch thực hiện quy hoạch.
Đối với xã nhóm 2, yêu cầu có quy hoạch chung xã được công bố công khai đúng thời hạn và ban hành kế hoạch thực hiện quy hoạch. Cả hai nhóm xã đều phải có quy hoạch chi tiết xây dựng trung tâm xã hoặc quy hoạch chi tiết điểm dân cư mới; có quy chế quản lý kiến trúc được phê duyệt hoặc được tích hợp trong quy hoạch chung xã.
Về hạ tầng kinh tế - xã hội, xã nhóm 1 phải có đường xã đạt tiêu chuẩn đường đô thị, phù hợp với tốc độ đô thị hóa; tỷ lệ km đường xã được trồng cây xanh dọc tuyến đường đạt từ 50%; đường thôn, ngõ, xóm được cứng hóa đạt tỷ lệ 100%.
Đối với xã nhóm 2, đường xã bảo đảm kết cấu hạ tầng kỹ thuật, có các hạng mục cần thiết theo quy định; tỷ lệ km đường xã được trồng cây xanh dọc tuyến đường đạt từ 50%; đường thôn, ngõ, xóm được cứng hóa đạt tỷ lệ từ 90%.
Ở tiêu chí thủy lợi, đối với xã nhóm 1, các công trình thủy lợi do xã quản lý được bảo trì hằng năm; diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới và tiêu nước chủ động đạt tỷ lệ từ 90%; có áp dụng công nghệ tiên tiến, phù hợp với phát triển nông nghiệp đô thị.
Đối với xã nhóm 2, các công trình thủy lợi do xã quản lý được bảo trì hằng năm; diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới và tiêu nước chủ động đạt tỷ lệ từ 80%; có áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm đối với cây trồng chủ lực đạt tỷ lệ từ 30%. Yêu cầu chủ động về phòng, chống thiên tai theo phương châm “4 tại chỗ” đối với xã nhóm 1 ở mức “Tốt”, xã nhóm 2 ở mức “Khá”. Tỷ lệ hộ có đăng ký trực tiếp và được sử dụng điện sinh hoạt, sản xuất bảo đảm an toàn, tin cậy và ổn định của cả hai nhóm xã phải đạt từ 99%.
Đối với cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, xã nhóm 1 phải có chợ đạt chuẩn chợ kinh doanh thực phẩm theo quy định hoặc có siêu thị hạng 3 trở lên. Xã nhóm 2 phải có chợ đáp ứng các yêu cầu chung theo tiêu chuẩn chợ kinh doanh thực phẩm hoặc có ít nhất một khu vực kinh doanh đáp ứng yêu cầu đối với các cơ sở kinh doanh thực phẩm tại chợ hoặc có siêu thị mini trở lên. Hạ tầng viễn thông phải bảo đảm phủ sóng, internet đến 100% khu dân cư nông thôn, vùng sản xuất.
Trong nhóm phát triển kinh tế nông thôn, tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người có chỉ tiêu chung bình quân từ 9,5 - 12%/năm; yêu cầu đối với xã nhóm 1 đạt từ 10,5%/năm, xã nhóm 2 đạt từ 9,5%/năm.
Các xã phải có vùng nguyên liệu tập trung đối với cây trồng, vật nuôi chủ lực của xã được chứng nhận chất lượng, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Đối với mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc mô hình kinh tế xanh hoặc mô hình kinh tế tuần hoàn hiệu quả, xã nhóm 1 phải có từ 3 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc có ít nhất một mô hình kinh tế xanh hoặc có ít nhất một mô hình kinh tế tuần hoàn hiệu quả. Xã nhóm 2 phải có từ 2 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc có ít nhất một mô hình kinh tế xanh hoặc có ít nhất một mô hình kinh tế tuần hoàn hiệu quả.

Đối với OCOP, cả hai nhóm xã phải có kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP giai đoạn 2026 - 2030; có ít nhất một sản phẩm OCOP 4 sao trở lên còn thời hạn, hoặc có ít nhất 2 sản phẩm OCOP 3 sao còn thời hạn và có lộ trình cụ thể trong kế hoạch để phát triển ít nhất một sản phẩm OCOP 4 sao trở lên. Đồng thời, tỷ lệ chủ thể là các HTX, doanh nghiệp nhỏ và vừa; tỷ lệ phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật (nếu có) điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt duy trì bằng kết quả ở thời điểm ngày 31/12 của năm trước liền kề năm đánh giá.
Đối với các mô hình du lịch nông thôn (nếu có) trong quy hoạch chung xã, 100% điểm du lịch nông thôn trên địa bàn xã phải được công nhận là điểm du lịch hoặc là điểm du lịch cộng đồng hoặc được công nhận là sản phẩm OCOP; có sự tăng trưởng về quy mô lượng khách du lịch hằng năm trong 2 năm trước liền kề năm đánh giá.
Bộ tiêu chí cũng yêu cầu xã có hợp tác xã hoạt động hiệu quả. Đối với tổ khuyến nông cộng đồng hoạt động hiệu quả, xã nhóm 1 không quy định, xã nhóm 2 yêu cầu từ 70 điểm. Tỷ lệ hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi theo quy định đối với xã nhóm 1 đạt từ 60%, xã nhóm 2 đạt từ 50%.
Các xã phải có hoạt động phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn gắn với tạo việc làm, thu nhập cho người lao động địa phương; có khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp hoặc làng nghề được công nhận hoặc khu vực sản xuất dịch vụ quy mô phù hợp được quy hoạch, đầu tư xây dựng bảo đảm đáp ứng các quy định của pháp luật.
Về đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đối với xã nhóm 1 phải đạt từ 40%, xã nhóm 2 từ 35%. Tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông tương ứng là 60% và 50%.
Nâng yêu cầu về chuyển đổi số, môi trường và an sinh xã hội
Bên cạnh yêu cầu về hạ tầng và phát triển kinh tế, Bộ tiêu chí đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về giảm nghèo, an sinh xã hội, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, môi trường, hành chính công và bảo đảm an ninh, quốc phòng.
Theo đó, tỷ lệ nghèo đa chiều của xã nhóm 1 phải ở mức không quá 1,5%, xã nhóm 2 không quá 3%; tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố của cả hai nhóm xã phải đạt 100%.
Đối với nước sạch, xã nhóm 1 phải có tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn từ 80% trở lên, trong đó phải có tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung. Mức tương ứng đối với xã nhóm 2 là từ 70% trở lên.

Chuyển đổi số được thể hiện thành một nhóm tiêu chí riêng. Các xã phải đáp ứng yêu cầu về điểm bưu chính phục vụ công cộng và chính quyền số tại địa bàn; số hóa dữ liệu về nông nghiệp và môi trường; triển khai hiệu quả hoạt động thương mại điện tử.
Đặc biệt, Hà Nội đưa mô hình thôn thông minh vào Bộ tiêu chí. Xã nhóm 1 phải có từ 2 mô hình thôn thông minh, xã nhóm 2 phải có từ một mô hình trở lên.
Đối với môi trường và cảnh quan nông thôn, hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn trên địa bàn phải bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được phân loại, thu gom, xử lý đạt từ 80%; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt chôn lấp trực tiếp không quá 50% tổng lượng chất thải rắn phát sinh.
Tỷ lệ chất thải chăn nuôi, chất thải hữu cơ, phụ phẩm nông nghiệp được thu gom, xử lý, tái chế thành sản phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu, phân bón phải đạt từ 90%. Tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làng nghề (nếu có) theo quy hoạch và tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ môi trường phải đạt 100%.
Bộ tiêu chí cũng yêu cầu tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý bằng biện pháp phù hợp đạt từ 50% đối với cả hai nhóm xã. Riêng xã nhóm 1 phải có ít nhất một công trình xử lý nước thải sinh hoạt áp dụng biện pháp phù hợp.
Trong nhóm xây dựng hệ thống chính trị và hành chính công, Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội xã phải được đánh giá, xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Trung tâm phục vụ hành chính công phải hoạt động hiệu quả, tỷ lệ thủ tục hành chính được thực hiện theo dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt từ 90%.
Một điểm mới đáng chú ý là yêu cầu có hệ thống camera AI giám sát an ninh trên địa bàn toàn xã. Bên cạnh đó, xã phải đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự; phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc hoạt động hiệu quả; lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phát huy hiệu quả, bảo đảm số lượng, chất lượng và điều kiện hoạt động.
Các xã cũng phải xây dựng lực lượng dân quân “vững mạnh, rộng khắp” và hoàn thành các chỉ tiêu quân sự, quốc phòng.
“Theo Quyết định, Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể liên quan đôn đốc UBND các xã triển khai xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030; định kỳ 6 tháng và hằng năm tổng hợp, báo cáo UBND Thành phố về kết quả thực hiện.
UBND các xã có trách nhiệm chủ động rà soát, đánh giá mức độ đạt được đối với các tiêu chí, chỉ tiêu; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện phù hợp với lộ trình của UBND Thành phố; hằng năm phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn”.
***
Trang thông tin có sự phối hợp của Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới Hà Nội.

