Xây dựng công trình cấp nước: Đừng để chồng chéo, lãng phí

Nhiều đơn vị tham gia xã hội hóa việc cung cấp nước sạch tập trung ở ngoại thành Hải Phòng lo ngại trước thực trạng không ít trạm cấp nước tập trung được đầu tư theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" hoặc do tư nhân bỏ vốn xây dựng  với số tiền hàng tỷ đồng hoạt động cầm chừng, có nguy cơ "đắp chiếu" để đấy.

Nhiều đơn vị tham gia xã hội hóa việc cung cấp nước sạch tập trung ở ngoại thành Hải Phòng lo ngại trước thực trạng không ít trạm cấp nước tập trung được đầu tư theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" hoặc do tư nhân bỏ vốn xây dựng  với số tiền hàng tỷ đồng hoạt động cầm chừng, có nguy cơ "đắp chiếu" để đấy.

Ngày càng nhiều người  được dùng nước hợp vệ sinh

Ông Phạm Văn Đức (Phòng Kỹ thuật Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn Hải Phòng) cho biết, trên địa bàn thành phố hiện có 101 trạm cấp nước mi ni. Nhờ vậy, diện cung cấp nước sạch đến với các hộ dân ngày càng mở rộng, số hộ được dùng nước sạch tại các địa phương ngày càng tăng. Đến nay, tỷ lệ người dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 91%, trong đó khoảng 38% được dùng nước sạch đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Việc cung cấp nước sạch từng bước được xã hội hóa với sự tham gia đầu tư kinh phí xây dựng các công trình cung cấp nước sạch của tập thể, cá nhân. Điển hình như tại huyện An Lão, Công ty TNHH Trang Anh đã đầu tư 520 triệu đồng xây dựng nhà máy nước và lắp đặt đường ống nước đến từng hộ dân. Tại huyện Kiến Thụy, 70% số hệ cấp nước tập trung do các doanh nghiệp đầu tư.

Bất cập nảy sinh

Tại cuộc làm việc với đại diện lãnh đạo Liên minh HTX thành phố mới đây, nhiều chủ đầu tư các trạm cấp nước trên địa bàn huyện Kiến Thụy, An Lão bức xúc  khi phản ánh tình trạng đơn vị nọ giẫm chân lên đơn vị kia trong xây dựng công trình. Bà Đỗ Thị Bích Thảo, Chủ nhiệm HTX dịch vụ nước sạch và vệ sinh môi trường Hưng Đạo (quận Dương Kinh), cho biết, nhiều hệ cấp nước trên địa bàn huyện Kiến Thụy, quận Dương Kinh được thành phố, tư nhân đầu tư kinh phí khá lớn, song  hoạt động chưa thực sự hiệu quả, bởi trên cùng một địa bàn có nhiều đơn vị kinh doanh dịch vụ cung cấp nước. Theo ông Nguyễn Văn Thịnh, quản lý Nhà máy nước mi-ni xã An Thái, việc cung cấp nước sạch trên địa bàn ổn định tới nhiều hộ dân, song thời gian gần đây có đơn vị về địa phương khảo sát chuẩn bị đầu tư công trình cấp nước nên người dân nảy sinh tâm lý chờ đợi, nghe ngóng. Cùng chung nỗi băn khoăn này, hầu hết chủ trạm cấp nước tập trung trên địa bàn ở ngoại thành lo ngại trước nguy cơ phải đóng cửa các nhà máy, nhất là tại các xã như: Ngũ Phúc, Kiến Quốc, Thuận Thiên (huyện Kiến Thụy). Theo bà Thảo, các HTX kinh doanh dịch vụ này băn khoăn, lo lắng trước thực trạng trên vì ngoài nguồn vốn đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, nhiều tư nhân phải thế chấp “sổ đỏ” vay ngân hàng lượng vốn lớn để đầu tư hệ thống đường ống, đồng hồ từ nhà máy tới các hộ dân. Hoạt động xã hội hóa việc cung cấp nước sạch phục vụ nhân dân  ngoại thành là chủ trương được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện, song để thu hồi vốn trong lĩnh vực kinh doanh này cần thời gian trung bình 10- 15 năm. Hầu hết trạm cấp nước trên địa bàn thành phố mới đi vào hoạt động 3-4 năm, số vốn thu hồi chưa được là bao.

Nhà máy cấp nước Tân Viên (An Lão) là công trình được xây dựng bằng nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước và đóng góp của nhân dân.
Nhà máy cấp nước Tân Viên (An Lão) là công trình được xây dựng bằng nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước và đóng góp của nhân dân.

Quy hoạch khu vực khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư

Trước thực trạng hoạt động của những trạm cấp nước tập trung mi-ni được hỗ trợ đầu tư bằng nguồn vốn của thành phố, chương trình quốc gia, hỗ trợ quốc tế cộng với việc xã hội hóa huy động sự tham gia của tư nhân chưa thực sự hiệu quả, gây lãng phí rất cần được tháo gỡ bằng giải pháp mang tính tổng thể.  Bên cạnh nguyên nhân cần khắc phục như công tác quản lý, vận hành, đầu tư chưa đồng bộ, việc tuyên truyền vận động nhân dân sử dụng nước sạch còn hạn chế, vấn đề quan trọng là phát triển hệ cấp nước cần theo quy hoạch, bảo đảm khai thác, sử dụng nguồn nước hợp lý, tiết kiệm. Để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực này, cần công khai quy hoạch, bảo đảm quyền và lợi ích của nhà đầu tư, có cơ chế hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các đơn vị cùng cung ứng nước.

Từ thực tế hoạt động xã hội hóa việc cung cấp nước sạch khu vực ngoại thành, nhiều đơn vị đầu tư kinh doanh dịch vụ này đề nghị các cơ quan liên quan chủ động thông tin, hướng dẫn quy hoạch cấp nước, nhất là ở khu vực nông thôn. Theo ý kiến của nhiều đơn vị tham gia xã hội hóa đầu tư kinh doanh dịch vụ cung cấp nước sạch khu vực ngoại thành, cần rà soát tại các địa phương và khoanh vùng  khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng công trình cấp nước. ./.

Tiến Đạt