Xây bệ phóng công nghệ nông nghiệp để TP Hồ Chí Minh thành siêu đô thị xanh bền vững
Tại Hội thảo về “Tầm nhìn và chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2030: Từ ý tưởng đến hành động” mới đây, PGS. TS Nguyễn Tất Toàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã nêu ra định hướng một số mũi nhọn khoa học - công nghệ về nông nghiệp giúp cho đô thị bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Cần sự dịch chuyển tư duy, mô hình sản xuất
Theo PGS. TS Nguyễn Tất Toàn, thế giới đang tiến gần đến năm 2050 với thử thách lịch sử khắc nghiệt: dân số toàn cầu dự kiến chạm mốc 10 tỷ người, tạo ra áp lực khổng lồ lên an ninh lương thực trong khi biến đổi khí hậu vẫn đang tàn phá các hệ sinh thái.
Đứng trước lằn ranh này, nền nông nghiệp truyền thống dường như đã chạm tới giới hạn. Do đó, chúng ta cần có bản chiến lược phát triển nông nghiệp đô thị và bền vững trong giai đoạn 2026-2030, mang tầm vóc vĩ mô và chiều sâu đột phá.
Tư tưởng cốt lõi và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chiến lược này chính là sự dịch chuyển mô hình sản xuất: Mọi nghiên cứu khoa học không được phép nằm trên giấy mà phải bắt nguồn từ thực tiễn khắt khe, đi qua các không gian thử nghiệm, tiến tới mô hình trình diễn, chuyển giao công nghệ và đích đến tối thượng là thương mại hóa thành công.
Để hiện thực hóa điều này, TS Toàn đề xuất xây dựng một “hệ sinh thái sản xuất sinh học công nghiệp” hoàn chỉnh, nơi công nghệ sinh học, hạ tầng số và kỹ thuật tuần hoàn được thiết kế để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), dựa trên một chuỗi liên kết bền chặt giữa Nhà nước với vai trò dẫn dắt, cùng sự đồng hành sát sao của các doanh nghiệp, nhà khoa học và người nông dân.
Kiến trúc của hệ sinh thái này là bảy mũi nhọn khoa học công nghệ, trong đó nền tảng vững chắc nhất chính là nền kinh tế tuần hoàn. Những khái niệm như “chất thải” hay “phụ phẩm” bị xóa bỏ hoàn toàn. Thay vào đó, rơm rạ từ trồng trọt, phân bón từ chăn nuôi hay bùn ao từ thủy sản đều được tái định nghĩa là nguồn sinh khối mang giá trị kinh tế cao.
Các mô hình trang trại tuần hoàn khép kín, nơi chất thải chăn nuôi được chuyển hóa thành khí sinh học (biogas) và phân bón hữu cơ, hay việc ứng dụng ruồi lính đen để xử lý phụ phẩm thành thức ăn thủy sản cao cấp, chính là minh chứng cho việc nông nghiệp hoàn toàn có thể vừa giải quyết triệt để bài toán ô nhiễm, vừa giảm phát thải khí nhà kính và tăng thu nhập cho người dân.

Tiến xa hơn, bằng việc tiên phong ứng dụng khoa học dữ liệu về thực phẩm (Foodomics), trí tuệ nhân tạo cùng các công nghệ chế biến đỉnh cao như in 3D, sấy thăng hoa và vi bao, ngành nông nghiệp hướng tới việc kiến tạo nên các loại thực phẩm chức năng, mỹ phẩm dinh dưỡng và thực phẩm cá nhân hóa. Những ranh giới truyền thống bị phá vỡ khi các mô hình canh tác sáng tạo ra đời, điển hình như việc trồng rau đa tầng kết hợp cho thực vật nghe nhạc, hay chiết xuất hoạt chất y tế từ nông sản để phục vụ cho cả ngành y tế lẫn du lịch trải nghiệm.
Quá trình này được hoạch định với một lộ trình cực kỳ bài bản là bắt đầu bằng việc số hóa cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc trong năm đầu tiên, tiến tới phát triển công nghệ tạo nguyên mẫu và cuối cùng là mở rộng quy mô thương mại hóa ra thị trường.
Đặc biệt, sự can thiệp sâu rộng của trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số đóng vai trò như một “hệ thần kinh trung ương” điều phối toàn bộ các hoạt động trên. Sự hiện diện của công nghệ kết nối (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và thiết bị bay không người lái (drone) sẽ giám sát và tối ưu hóa từng khâu nhỏ nhất trong quy trình sản xuất.
Một phòng Lab AI chuyên sâu cần được xây dựng để tạo ra những bước nhảy vọt trong ngành thú y và chăn nuôi. Nhờ AI, việc chẩn đoán nhanh bệnh tật qua hình ảnh lâm sàng hay đánh giá sức khỏe của cả một đàn vật nuôi chỉ thông qua việc phân tích nhận dạng âm thanh và nhiệt độ không còn là viễn cảnh xa vời. AI cũng sẽ trực tiếp tham gia vào việc phân tích dữ liệu khổng lồ để dự đoán tiềm năng ứng dụng của tinh dầu và tìm kiếm các loại dược liệu mới...
Liên kết sản xuất nông nghiệp, cơ chế tài chính xanh, chính sách chuyển đổi
Tuy nhiên, theo PGS. TS Nguyễn Tất Toàn, một nền nông nghiệp không thể tự mình phát triển bền vững nếu tách rời khỏi bức tranh kinh tế vĩ mô và những tác động của tự nhiên.
Ở mũi nhọn thứ tư và thứ năm, chiến lược giải quyết bài toán phát triển nông thôn bền vững thông qua việc thiết lập một vòng lặp hoàn hảo giữa sản xuất nông nghiệp, cơ chế tài chính xanh và chính sách chuyển đổi. Việc đánh giá vòng đời sản phẩm và xây dựng chuỗi cung ứng logistics tiến tới phát thải ròng bằng không (Net Zero) được xem là bắt buộc, đi kèm với đó là việc thiết kế các công cụ tài chính sắc bén để thương mại hóa tín chỉ carbon, mang lại dòng tiền thực tế cho cộng đồng nông dân.
TS Toàn chỉ ra những mối liên hệ phức tạp đầy bất ngờ: “Chẳng hạn như việc rác thải vi nhựa công nghiệp đang trở thành vật trung gian nguy hiểm, mang vi khuẩn kháng thuốc xâm nhập vào hệ sinh thái nước và đất, làm trầm trọng thêm tình trạng đề kháng kháng sinh trong ngành chăn nuôi và thú y. Để ứng phó, chiến lược áp dụng song song cả góc nhìn từ trên xuống về hệ thống khí hậu và từ dưới lên hướng tới các đối tượng dễ tổn thương, tận dụng công nghệ không gian địa lý kết hợp với kiến thức bản địa để đưa ra các giải pháp thích ứng dựa vào tự nhiên.

“Cuối cùng, để khép kín chuỗi giá trị, việc thương mại hóa sản phẩm phải được đặt lên hàng đầu. Tổng thể những định hướng này không chỉ khẳng định vị thế dẫn dắt học thuật của các nhà nghiên cứu, các nhà trường, mà còn là bản thiết kế có giá trị để kiến tạo nên một siêu đô thị xanh thông minh, nơi công nghệ hiện đại phục vụ đắc lực, bền vững giữa con người và thiên nhiên, đặc biệt là đối với siêu đô thị TP Hồ Chí Minh”, PGS. TS Nguyễn Tất Toàn nhấn mạnh.