Xã hội hóa và tư nhân hóa giáo dục: "còn nhiều mảng mờ"
Câu chuyện tư nhân hóa GD vẫn là một đề tài “nóng”, có rất nhiều tranh luận, có trường phái ủng hộ và cả trường phái chống đối.
Câu chuyện tư nhân hóa GD vẫn là một đề tài “nóng”, có rất nhiều tranh luận, có trường phái ủng hộ và cả trường phái chống đối. Việc đánh giá các kết quả của tư nhân hóa GD cũng còn khá hạn chế và “câu hỏi vẫn còn nhiều hơn là câu trả lời”- GS Phạm Phụ.
Câu hỏi nhiều hơn câu trả lời
- Thưa ông, xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là một chủ trương lớn của nhà nước và của ngành GD. Tuy nhiên, sau hơn chục năm thực hiện, hình như XHHGD được triển khai theo cách hiểu thô thiển- người dân đóng góp tài chính cho GD. Vậy theo ông, xét về bản chất, khái niệm này cần được hiểu như thế nào?
GS Phạm Phụ: Cụm từ “XHHGD”, đặc biệt là một số giải pháp dự kiến được đưa ra như “cổ phần hóa” một số cơ sở GD đại học công lập chẳng hạn, đã gây ra rất nhiều “nhiễu” trong dư luận xã hội cũng như trong phản biện trên các phương tiện truyền thông. Đã có ý kiến phải kêu lên rằng, đó là “những kỳ dị đằng sau cụm từ XHHGD”.
Tuy nhiên, Nghị quyết 05 năm 2005 của Chính phủ, đã nêu lên hai mục tiêu lớn của XHHGD. 1) “Phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp GD, y tế…”. 2) “Tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng thành quả GD, y tế… ở mức độ ngày càng cao.”
Như vậy XHHGD ở đây có thể được hiểu, một mặt là việc huy động các nguồn lực khác nhau của xã hội và cả sự tham gia công sức, trí tuệ của cộng đồng để phát triển sự nghiệp GD. Mặt khác, phải có chính sách để công bằng xã hội tốt hơn cùng với việc nâng cao khả năng “tiếp cận dịch vụ GD” của toàn xã hội.
![]() |
|
Ảnh: 3C.com |
- Ở các nước phát triển người ta có nói đến XHHGD không? Hay XHHGD chỉ là xu hướng của những nước nghèo, đang phát triển như nước ta? Và nói chung, thế giới đã hiểu và thực hiện XHHGD như thế nào, thưa ông?
Thế giới đã và đang trải qua 3 làn sóng “tư nhân hóa”. Thứ nhất là tư nhân hóa doanh nghiệp, thứ hai là tư nhân hóa telecoms, hàng không, điện, nước, đường sá… và thứ ba là tư nhân hóa GD, chăm sóc y tế, quỹ hưu trí v.v…
“Tư nhân hóa” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, là “quá trình chuyển đổi các hoạt động, các tài sản, các trách nhiệm từ chính phủ, từ các định chế hoặc tổ chức công sang cộng đồng, các tổ chức tư nhân và các cá nhân”.
Tư nhân hóa cũng còn được hiểu là “tự do hóa”, làm cho các tác nhân được giảm bớt sự điều khiển trực tiếp của chính phủ, tạo thêm một thị trường cung cấp tư các dịch vụ công, bên cạnh thị trường cung cấp dịch vụ công của chính phủ.
Nói riêng trong lĩnh vực GD, nếu nhìn vào những mục tiêu chung thì giữa xu thế tư nhân hóa trên thế giới, cả ở nước đã phát triển cũng như đang phát triển, và XHHGD ở Việt Nam (như đã nêu ở trên) không có sự khác nhau đáng kể.
Tuy nhiên, nếu đi vào các mục tiêu cụ thể cũng như các hình thái giải pháp cụ thể thì lại có sự khác biệt tương đối lớn. Xin lưu ý, việc tư nhân hóa GD có khá nhiều khác biệt so với làn sóng tư nhân hóa thứ nhất và thứ hai vừa nói ở trên.
Tư nhân hóa trong GD trên thực tế hết sức đa dạng, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể cũng như sự lựa chọn chính sách của từng nước, tùy thuộc từng thời kỳ phát triển, từng cấp GD khác nhau: Tiểu học, trung học, GD sau THPT… mà có những giải pháp khác nhau.
Và cũng cần nói rõ, tuy có một xu thế chung trên thế giới nhưng câu chuyện tư nhân hóa GD vẫn là một đề tài “nóng”, có rất nhiều tranh luận, có trường phái ủng hộ và cả trường phái chống đối. Việc đánh giá các kết quả của tư nhân hóa GD cũng còn khá hạn chế và “câu hỏi vẫn còn nhiều hơn là câu trả lời”.
Sự khác biệt
- Ông có thể nêu lên một số ví dụ về sự khác biệt giữa các nước và Việt Nam trong giải pháp XHHGD?
Trong GD phổ thông ở nhiều nước, câu chuyện tư nhân hóa chủ yếu không phải là tài chính, mà là tạo ra một môi trường cạnh tranh, có sự tự do lựa chọn trường học của cha mẹ học sinh, linh động trong quản lý, thêm quyền lực và trách nhiệm xã hội cho cộng đồng v.v…
Giải pháp rất đa dạng, ví dụ: Áp dụng “phiếu trợ cấp GD” (như ở Chi Lê, Colombia…), phiếu này được nhà nước cấp trực tiếp cho học sinh, họ học ở đâu thì nộp vào đấy, cơ sở GD sẽ được nhà nước cấp kinh phí theo số học sinh nhập học. Nếu không có đủ số học sinh thì thậm chí trường có thể bị đóng cửa, thầy cô giáo có thể bị mất việc. Hoặc khoảng 70% học sinh phổ thông ở Hà Lan lại học trong các trường được vận hành bởi những “hội đồng trường học tư”, nhưng vẫn nhận ngân sách từ nhà nước v.v…
Nhưng ở GDĐH việc tăng tỷ lệ phần “cung cấp tài chính tư” ở các cơ sở công lập cũng như mở rộng ĐH tư thục lại là một giải pháp phổ biến ở nhiều nước. Cũng có trường ĐH tư mà lại do nhà nước lập, được “vận hành tư nhưng lại là tài trợ công” như IUB của Đức, SMU của Singapore.
Tất nhiên, trường tư nhưng không vì lợi nhuận và luôn có “hội đồng trường” gồm đa số những người bên ngoài trường, đại diện cho lợi ích cộng đồng xã hội. Nói một cách khác, “cung cấp dịch vụ GD tư” nhưng lại là “tài trợ công”.
“Học ở gia đình” cũng được xem là một phương thức GD hợp pháp (Mỹ, Thái Lan…). Ở Mỹ có trên 800.000 học sinh (1,7% trẻ em tuổi học đường) ít nhất đã qua 2 năm “học ở gia đình”. Tư nhân hóa GD ở đây được hiểu là “cung cấp dịch vụ GD tư”, “tài trợ tư” và chỉ chịu một sự giám sát rất nhẹ nhàng từ các cơ quan của chính phủ. Nhờ đó giảm được một phần ngân sách nhà nước cho GD, dành thêm cho các mảng GD khác.
![]() |
|
Ảnh: thanhdo.edu.vn |
- Nội hàm của XHHGD ở Việt Nam cũng bao gồm tổ chức cho người dân tham gia vào quá trình GD?
Nhưng đây lại là một mảng đang còn trống vắng về mặt giải pháp trong XHHGD ở Việt Nam. Một số cơ sở GDPT ở Việt Nam có “hội phụ huynh”, nhưng nhiệm vụ chủ yếu của hội dường như chỉ để hợp pháp hóa các khoản thu thêm ngoài mức học phí đã quy định, các hoạt động khác rất hạn chế.
Ở Mỹ, GDPT được chia thành gần 15.000 khu GD, quy mô một khu có thể biến thiên từ 2.500 đến 25.000 học sinh. Mỗi khu sẽ bầu ra, gần giống như bầu hội đồng nhân dân ở VN, hoặc được chỉ định thông qua các tiến trình dân chủ bầu ra một “hội đồng trường học”. Hội đồng này có quyền lực trực tiếp chi phối và quản lý hầu như tất cả các trường công trong khu GD. Các công đoàn giáo viên có thể sẽ “thương lượng tập thể” với các hội đồng này về rất nhiều vấn đề, trong đó có cả vấn đề lương bổng và sa thải giáo viên.
Ở VN, từ việc xây dựng chính sách, tổ chức “hội đồng trường” ở các cơ sở ĐH … cho đến lấy ý kiến về một chủ trương, về một đề án, thậm chí về một “sự cố” nào đó trong GD… thì lại như là công việc nội bộ của ngành GD vậy (!).
Còn nhiều “mảng mờ”
- XHHGD ở Việt Nam, trong NQ 05, NQ 14 năm 2005 cũng đã có nêu lên các giải pháp mở rộng ĐH tư thục, đưa tỷ lệ SV tư thục lên 30 – 40%, chuyển một số cơ sở GDĐH công lập sang tư thục, khuyến khích cơ chế “phi lợi nhuận” v.v… thưa ông?
Ở đây có 3 vấn đề khác nhau, tuy có liên quan với nhau. Đúng là đã có kế họach đưa tỷ lệ SV tư thục lên đến 30 – 40% vào năm 2010 (Ở Nhật, Hàn Quốc, Philippines, Indonesia… tỷ lệ này lên đến 75 – 80%). Nhưng đến nay, ta mới chỉ đạt khoảng 14%.
Thứ nhất, có lẽ do trong GDĐH ở VN, cung còn thấp xa cầu, nghĩa là còn “độc quyền”, do đó cấp một giấy phép thành lập trường còn phụ thuộc cơ chế xin - cho. Mặt khác, ngành GD chưa quản lý tốt các cơ sở ĐH tư thục, đặc biệt là chuẩn mực học thuật và tài chính. Do đó nhìn chung chất lượng đào tạo thấp, chưa tạo được lòng tin đối với xã hội. Các vấn đề về “sở hữu chung”, “vì lợi nhuận”, “không vì lợi nhuận”… còn để ở dạng “mảng mờ”.
Thứ hai, theo kế hoạch, đến năm 2020 phải có ít ra là 2,7 triệu SV công lập. Hiện đang có khoảng 1,4 triệu. Nghĩa là còn phải lập thêm nhiều cơ sở ĐH công lập để có thêm 1,3 triệu chỗ học mới nữa kia mà. Ai cũng rõ, ngay “cổ phần hóa” doanh nghiệp nhà nước mà cũng đã có “những lỗ hổng chết người”. Còn nếu cần huy động thêm vốn, các trường ĐH có thể vay vốn ngân hàng và cả phát hành trái phiếu với “giá sử dụng vốn” vay rẻ hơn, đâu nhất thiết phải “cổ phần hóa một phần” với “giá sử dụng vốn” cổ đông cao hơn.
Thứ ba, cho đến nay vẫn chưa có cơ sở pháp lý về cơ chế “phi lợi nhuận”, mặc dầu Chính phủ đã có yêu cầu làm rõ cơ chế này trong năm 2005 – 2006. Và, cũng đã có những nhầm lẫn trong một số văn bản đã công bố cũng như trong dự thảo Nghị định về việc “chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập theo phương thức cổ phần hóa”. Tổ chức không vì lợi nhuận là không được chia lợi nhuận cho bất cứ ai. Đã có nhà đầu tư, có cổ phần, đã niêm yết chứng khoán v.v…như nói trong dự thảo thì làm sao lại có thể là “phi lợi nhuận” (!)
- Rõ ràng, XHHGD còn rất thiếu lý luận làm định hướng. Theo ông, thực tiễn XHH trong GD hiện nay cần những sự điều chỉnh như thế nào?
Tôi không dám có ý kiến về đánh giá chung. Muốn vậy phải có những nghiên cứu rất công phu. Tuy nhiên, từ quan điểm và định hướng chung đi đến các chính sách, các giải pháp, các chương trình tổ chức thực hiện v.v…luôn là một khoảng cách lớn, cần phải được thiết kế một cách rất chuyên nghiệp.
Đáng tiếc hiện nay không phải như vậy, vì thế có thể nói đang còn rất nhiều “mảng mờ” trong XHHGD ở Việt Nam.
- Xin cảm ơn GS.
Theo TuanVietNam

