Vườn xưa
“Vườn xưa” không chỉ nói về khu vườn ngày xửa ngày xưa trong ký ức mỗi nhân vật, đó còn là một đại gia đình với người mẹ và năm đứa con, đó là một xã hội thu nhỏ với đủ mọi hỷ, nộ ái, ố của cuộc đời. Văn cứ ngồn ngộn cảnh sắc, ngồn ngộn con người, ngồn ngộn sự kiện và tình huống… Chính vì thế, truyện có hơn 2500 chữ thôi mà đọc mãi không hết. May là truyện không rối. Tình huống nối tiếp tình huống, nhân vật nối tiếp nhân vật thay nhau bộc lộ tính cách, xung đột nối tiếp xung đột, mâu thuẫn nối tiếp mâu thuẫn mà mạch truyện vẫn sáng rõ. Câu chuyện vẫn trôi chảy mạch lạc. Và cái kết thật bâng khuâng, đủ sức neo giữ trong lòng người đọc một thảng thốt nhân văn. “Vườn xưa” không phải là chuyện ngày xưa mà như một cái gương khổng lồ để các nhân vật soi mình vào đấy. Và ngay cả người đọc nữa, sẽ có nhiều người thấy mình trong chiếc gương có tên là “Vườn xưa” ấy.
Nhà văn Nguyễn Đình Tú
Ngôi nhà nằm giữa vườn cây. Na, mít, ổi, xoài, dừa, nhãn...mùa nào thức nấy um tùm rậm rạp. Ba chị em trứng gà, trứng vịt, thêm lũ trẻ con hàng xóm lít nhít lấy khu vườn làm địa điểm tập trung suốt ngày không ngơi tay ngơi miệng. Tót một cái cả lũ đã vắt vẻo trên mấy cành ổi ngả ra bờ sông, vừa nhá ổi xanh, vừa huyên thuyên đủ thứ. Lương nghỉ ốm hai trăm ngàn đồng của mẹ không nuôi đủ năm người. Anh cả học đại học ở Hà Nội cũng chỉ thỉnh thoảng mới dám về xin tiền. Sự học hành của ba chị em là một khó khăn lớn. Mẹ bảo: Hễ khoẻ mẹ lại đi làm, các con phải học hành cho nên người. Chị hai bảo nhỏ: Ngày xưa mẹ cũng đại học này đại học nọ mà nhà mình vẫn nghèo đấy thôi. Con bé út không nghĩ thế. Nó trả lời gọn lỏn: Tại mẹ ốm.
Mẹ một năm nằm viện sáu, bảy tháng, còn lại ở nhà nghỉ tự túc. Mùa hè, những cơn bão kéo về làm tả tơi khu vườn. Đêm đêm tiếng cuốc xáo xác thành từng chuỗi, bắt nước ngập vang vọng kéo dài không dứt. Mẹ bảo: "Não cả ruột!". Rồi mẹ trở mình liên tục, những tiếng thở dài sẽ sượt suốt đêm.
Thị trấn chuyển mình, con đường được mở rộng ra lấn mất vườn hoa tóc tiên trước nhà của con bé út, nhưng nó giờ đã lớn chẳng còn thời gian để mà tiếc như trước nữa. Anh cả lấy vợ. Chị dâu buôn bán trên tỉnh, thỉnh thoảng anh chị mới về, sẵn vườn hoa quả tha đi, có khi cả từng mớ rau. Mẹ cười: "Năng nhặt chặt bị... Chúng mày nay mai lấy chồng rồi cũng thế.". Chị hai nguýt: "Chúng con thèm vào!".
Chị hai theo chồng về mãi tận Vinh xa lắc.
Mẹ về hưu chăm sóc cả khu vườn sạch sẽ tốt tươi. Chị dâu về bảo: "Chặt đi mẹ ạ, để bẩn vườn. Sắp lên thị xã rồi, bán đất tha hồ lắm tiền". Mẹ không nói gì, lẳng lặng sắp cho hai làn toàn quả ngon, chị dâu hồ hởi chở đi. Mấy bữa sau chị lại về giục bán đất. Đất đang sốt, giá tăng vùn vụt, nhiều nhà tỉnh dậy thấy mình đã là tỉ phú. Mẹ bảo: "Tao già rồi, bám lấy vườn tược còn nuôi hai em ăn học". Chị dâu sấn vào bàn: "Bán nửa đi, mẹ tha hồ sắm sửa, các cô học hết mấy, còn đâu cho cháu nội...", mắt chị sáng rỡ như đang nhìn tận mắt hàng cọc tiền dầy ngút. Chị ba đang học sư phạm, con bé út cũng đã vào năm đầu đại học. Lương hưu, tiền bán hoa quả của mẹ không thể đủ. "Để chúng con đi làm thêm, ối người vừa đi học, vừa đi làm đấy thôi". Mẹ lắc đầu: "Chúng mày khổ sở thiếu thốn nhiều rồi". Khu vườn rộng cả nghìn mét vuông, mỗi mét đều mang những kỷ niệm thơ ấu nhọc nhằn của cả ba chị em. Mẹ bán bớt bốn mét mặt đường, chặt mất cây ổi ngày xưa hay leo trèo, mấy chị em tiếc ngẩn ngơ. Bù lại nhà khá dần lên.
Mẹ đổ bệnh. Khối u buồng trứng, mổ gấp. Chị hai ở tận Vinh bổ về. Mổ xong mẹ nằm như dính xuống giường, chiếc chăn đắp chỉ hơi gợn. Hơn tháng sau đưa mẹ về, căn nhà rêu mốc lạnh lẽo. Khu vườn dầy lên những lá. Chị hai phải trở về Vinh. Chị ba bảo con bé út: "Cứ học hành đi. Tao dạy hợp đồng, ở nhà chăm mẹ cũng thế". Anh cả chỉ biết băn khoăn đứng bên giường mẹ. Chị dâu đảo mắt khắp nhà, ấn vào bàn tay xương xẩu xanh lét những gân của mẹ một xấp tiền mong mỏng rồi nhanh chóng kéo chồng đi: "Chị bận, cô chăm sóc mẹ giúp chị". Chị ba nhìn theo chua chát: "Sợ lây không dám ăn cơm nhà...".
Gió mùa đông bắc rít cồn cào trên nóc nhà. Khu vườn tả tơi những cành cây mục, ướt lép nhép trong mưa dầm dề. Những cây to đã trở nên già cỗi, nhọc nhằn trong giá lạnh. Mẹ không thể ra vườn, giá rét giữ chặt mẹ trong phòng, căn phòng tối tăm lạnh lẽo. Mẹ bảo: "Mẹ chỉ mong chúng mày về quây quần bên mẹ như những ngày còn thơ bé thôi. Đừng chặt cây nào đi nhé, để cho chim về đậu! À mà lâu lắm, dễ đến năm, sáu năm nay không thấy tiếng cuốc kêu nhỉ?".
Bệnh viện kết luận: Mẹ ung thư di căn, phải truyền hoá chất liều cao. Mấy anh em nhìn nhau ngơ ngác như bầy trẻ hôm nào. Mười ba triệu một lọ, truyền sáu lọ, mỗi đợt cách nhau hai mươi ngày. Cũng may là còn có cách. Nhưng... cả tiền thuốc, tiền chi phí đi lại, tiền ăn, tiền ở lên đến hơn trăm triệu đồng, đào đâu ra? Chị hai vỗ về em út rồi hướng tia mắt hy vọng sang anh cả. Anh bối rối quay đi. Chị dâu đoán được, rào đón: "Dạo này chả thấy lãi, toàn lỗ. Cũng có một ít để dành thì lại mang giam tiền cắm đất mất rồi. Cô tính, lương anh cô chả là bao...". Chị hai uất nghẹn, mắt long lên. Không còn cách nào khác, bán đất!
"Bán đất!", chị dâu lắp bắp. Bán bao nhiêu? Đủ chữa bệnh cho mẹ.
Mẹ ngất đi, đến khi tỉnh dậy mẹ như một người ở thế giới khác. Rồi mẹ gọi cả bầy con lại, đôi mắt đỏ khô bỗng chốc lấp lánh nhìn khắp lượt. Mẹ làm ra vẻ vui nhưng chưa bao giờ mẹ cứng rắn thế: "Có chết mẹ cũng không bán!".
…Mùa xuân, cha mẹ dắt nhau lang thang tìm chỗ ăn, chỗ ở, chỗ làm. Cha mẹ cưới nhau như thế nào? Buổi chiều cha chặt tre gom lá mía làm thành cái lều, cái lều đó là tổ ấm của mẹ và cha, thằng cả hoài thai trong cái lều đó. Ngày ấy, vùng này còn là bãi đất trống, cỏ mọc lút đầu, hoang như chưa có ai đặt chân đến. Ngày ngày, cha mẹ cật lực chặt cây, san đất, rắn rết, kiến mối hàng đàn lũ. Đêm, tiếng cò diệc xáo xác hoang vu. Và tiếng cuốc... tiếng cuốc cứ khắc khoải trầm uất thâu đêm. Mẹ ôm lấy cha thổn thức hoang mang. Chẳng biết con cuốc kia kêu nhỏ máu thế nào, chỉ biết đêm đêm mẹ khóc đầm vai áo cha...
Mắt mẹ rưng rưng,con bé út nắm chặt bàn tay gầy mòn run rẩy của mẹ. Bàn tay con nhà trí thức Hà Nội gốc đã phải chai sần thô ráp vì lao động nặng nhọc. Cuối thu mẹ sinh anh cả. Cha trồng một cây dừa. Cây dừa gợi nhớ quê hương miền
Khuya, con bé út đi lang thang trong vườn. Này là cây dừa, kia cây sấu, cây mít, cây na...cây nào được trồng khi cha mẹ yên vui, hạnh phúc bên nhau, cây nào được trồng bằng hai bàn tay chai sạn, bằng nước mắt, bằng những đêm cô đơn tủi hờn của mẹ khi cha về bên người khác. Mấy chục năm qua mẹ yêu thương khu vườn bằng tình yêu dành cho người đi xa, bằng tình yêu cho lũ con thơ dại. Bao nhiêu năm vắng cha, tiếng cuốc vẫn vọng đều như tiếng lòng của mẹ. Cuốc...cuốc...Cha bảo ở quê cha những đêm nước rong bìm bịp cũng kêu suốt đêm như thế. Chẳng biết giờ này cha đang nghe tiếng bìm bịp hay nghe tiếng chim lạ xứ người? Mẹ trở mình. Mẹ thức đêm này sang đêm khác, nghe ngóng...
Cuối đông cái lạnh càng trở nên tê tái. Ngày một cơn đau... hai cơn, rồi nhiều cơn. Mẹ sống bằng những ống moócphin, bằng ảo giác. Nhất quyết các con phải ở bên nhau, phải có chỗ ở đàng hoàng chứ đừng như mẹ lang thang xiêu dạt. Cả đời mẹ, cả đời cha...Hai bàn tay chỉ quen nhung lụa của mẹ, hai bàn tay chỉ còn bảy ngón của cha, cha mẹ vừa lật đất vừa bảo nhau: Hạnh phúc là đây. Từng nắm đất, từng gốc cây đã thấm đẫm mồ hôi nước mắt của cha mẹ nhưng đó cũng là những ngày cha mẹ hạnh phúc nhất. Bệnh của mẹ có chữa cũng thế thôi, đừng cắt bán đi máu thịt của mẹ...Những tán cây xào xạc, những chiếc lá cuối cùng rùng mình rụng xuống...Cha có về không? Đàn cuốc đã về chưa?
Nửa đêm về sáng mẹ bật dậy - thật diệu kỳ - nghe ngóng...Cuốc...cuốc...có phải đàn cuốc đã về đấy không? Con ba, con út khẽ thôi! Nghe cùng mẹ đi! Đàn cuốc, đàn cuốc đã về rồi! Không, mới chỉ có một con. Ngày cha mới đi, đêm đêm cũng chỉ có một tiếng cuốc thôi. Cuốc ...cuốc...đều đều khắc khoải. Chả bù cho ngày cha mẹ mới đến, cò diệc thì mẹ biết, nhưng ở Hà Nội mấy khi được nghe tiếng cuốc. Cuốc kêu hàng đàn, hàng chuỗi, mẹ sợ như nghe ngàn vạn tiếng rủa xả đe nẹt. Mẹ ôm chặt lấy cha, lần rờ bảy ngón tay cha. Ngày mới gặp cha, mẹ đã oà khóc khi nhìn thấy bàn tay tàn tật loang lổ. Cha bối rối vụt giấu hai bàn tay sau lưng rồi cứ đứng nhìn mẹ cho đến khi xe điện chạy qua mất. Cha vùng chạy theo: Chờ tôi zới!... Mẹ bừng tỉnh. Cha là bộ đội miền
Này, khẽ thôi, đừng làm con cuốc sợ! Nó chỉ có một mình thôi. Nó kêu cả đêm. Không, không ăn thịt nó đâu, mẹ bắt cha thả nó ra. Em sắp sinh, ăn toàn rau dại chịu sao nổi? Mẹ nhất định lắc đầu. Cuốc...cuốc...con cuốc lủi nhanh vào lùm cây. Đấy, nó lại đang kêu ở đâu đấy. Con ba, con út, soi đèn xem nó đâu. Mẹ toan đứng dậy. Chị ba hốt hoảng đỡ mẹ. Con bé út khóc nấc lên. Mẹ ơi, mẹ tỉnh lại đi, làm gì có con cuốc nào đâu? Có, cuốc...cuốc...cuốc... rõ ràng nó kêu rất gần, rất gần mà. Mẹ đưa tay ôm ngực, thân hình mẹ co rúm báo hiệu một cơn đau, nhưng khuôn mặt mẹ tươi tỉnh lạ thường. Cuốc...cuốc...đấy, mẹ chỉ tay ra vườn, đưa mẹ ra, đúng là con cuốc mẹ không ăn thịt rồi, cha bẫy cả ngày mới được...Đưa mẹ ra!...hơi thở mẹ thì thào đứt quãng. Cơn đau ghìm mẹ xuống giường. Hai chị em đưa mắt nhìn nhau. Đêm hoàn toàn yên lặng...
Đàn cuốc về chưa? Cha đã về chưa? Các con xem hay cha đang đứng ở cổng mà chưa dám vào? Đêm qua con cuốc bảo với mẹ nhất định hôm nay cha sẽ về. Con cuốc về chưa? Nó đi trước dẫn đường cho cha, nó về chưa? Chị ba với con bé út cùng trả lời: "Nó về rồi mẹ ạ!", rồi quay sang nhau bối rối. Đôi mắt mẹ cứ hướng ra cửa, chờ đợi. Chị ba mắt đỏ hoe, giọng nghèn nghẹn: "Hình như đây là con cuốc đầu đàn mẹ ạ, nó về trứơc để báo tin...". Đấy, cuốc...cuốc...nó đang kêu ở bụi chuối đấy. Mắt mẹ sáng lên.
Mẹ cứ chìm hết cơn mê sảng nay đến cơn mê sảng khác. Mẹ như đang lơ lửng giữa mùa xuân. Khu vườn đã thay áo mới mởn xanh qua đông tàn giá lạnh. Mẹ như trẻ lại...Mùa xuân cha mẹ dắt nhau đi tìm chốn ăn, chốn ở...Mùa xuân cuốc bắt đầu kêu, những tiếng kêu ấm áp nồng nàn. Mùa xuân cha trở về, nhất định cha sẽ trở về...Chị dâu chua chát: "Mẹ như mắc bệnh tương tư. Sốt cả ruột!"...
Bệnh tương tư? A! Nhớ rồi... Con bé chạy dọc bờ sông, vạch tìm từng bụi rậm, tiếng cuốc đâu thoảng xa cứ giục giã. Không, rõ ràng tiếng cuốc mà càng đuổi càng xa. Nắng dát vàng trên mặt sông lấp loáng. Một con cuốc, xác một con cuốc nằm phơi mình khô cong giữa đám hoa tầm xuân phớt hồng thơm ngát. Một lần về quê đứa bạn, bà nó kể một bài thuốc dân gian: lấy xác cuốc tán thành bột hoà với vài loại thuốc khác sẽ chữa được bệnh tương tư. Con bé hăm hở lao về, tóc rối mù, hai ống quần ướt nhẹp dính đầy cỏ may...
Chị hai, chị ba ôm chầm lấy nó khóc không thành tiếng. Con bé như mất hồn. Anh cả vòng tay ôm cả ba chị em, vòng tay anh run rẩy nấc nghẹn. Chị dâu đứng trân trân. Mẹ đòi ra vườn. Khu vườn ngập nắng. Mẹ nắm tay từng đứa, hỏi con út đâu? Chị ba thưa: Nó đi đón cha. Mẹ mỉm cười, nụ cười héo hắt. Mẹ ra đi, đôi mắt đăm đăm về phương trời xa. Con bé út đặt bên cạnh mẹ xác con cuốc, khẽ khàng vuốt. Đôi mắt mẹ khép lại. Cuộc đời mẹ khép lại.
Bốn anh em lặng lẽ dắt nhau ra vườn. Khu vườn trống trải không còn bóng dáng của mẹ. Những tán cây ủ rũ. Bốn anh em lần từng gốc cây thắt lên những vòng khăn tang trắng. Này là cây dừa... Này là cây sấu... Cây thị... Cây mít na... Cây này là anh cả. Cây này của chị hai, chị ba. Cây này của út... Thế còn cây nào của mẹ, của cha? Chợt không gian vỡ oà tiếng cuốc. Tiếng "cuốc...cuốc..." khắc khoải vọng dồn. Một con, hai con...rồi nhiều con. Trời đêm như quánh lại, đặc lại, nồng ấm. Bốn anh em bất giác nắm tay nhau thật chặt...
Phạm Hương Giang