Vùng phủ sóng

Truyện ngắn của Trần Nguyễn Anh

Khi tôi thử việc, Mân đã ngồi ở xó xỉnh ấy rồi. Cái góc tối chất đống những kẹp hồ sơ, máy điều hòa không ngó tới. Tôi ký hợp đồng thời vụ, rồi hợp đồng ngắn hạn, hợp đồng dài hạn. Mân vẫn góc ấy, bên chiếc điện thoại của phòng, chuông nó kêu như súng bắn.

Mọi người bảo Mân là chuyên gia “nấu cháo” điện thoại. Đôi khi tôi tự hỏi tôi đã hiểu hết bạn chưa. Ngày tắm hai lần, mỗi lần tiếng rưỡi, gội đầu tiếng nữa. Lại chui vào cái xó tối ấy, nơi giấu ba cái giường xếp Liên Xô để các vị ngủ trưa, dậy mùi cứt gián. Mái tóc dài đến tận gót chân của Mân tưởng như cái mành mành, để Mân nấp sau đấy thôi.

“Chẳng hiểu nó là người thế nào”, ai cũng bảo thế. Bọn trẻ gọi Mân bằng chị. Các cô mày tao. Những người đứng tuổi lịch sự một cô Mân, hai cô Mân. Không biết Mân cầm tinh con gì. Con gì mà để tóc dài, con gì nghe điện những hai tiếng liền? 

Không nói thì ai cũng nghĩ Mân thuộc diện “ế”, khó cải tạo. Ai cũng biết đời viên chức như cục lịch nằm góc phòng, cứ vợi dần đi, chẳng ai ngó ngàng gì nếu không phải là ngày lễ tết.

Công việc cơ quan đều đều, rất nhàn, chẳng phiêu lưu mạo hiểm gì, chẳng tốn nhiều công sức và thậm chí cũng chẳng tốn chi phí gì nhiều ngoài quỹ lương, tiền điện nước, tiền quà Trung thu. Công việc cứ như thói quen, chẳng phải nghĩ ngợi gì. Lao động trí óc và lao động chân tay cũng thế cả.

Đứa nào cũng bảo “Bà  cảm bẩm sinh”.

Mân thì bảo: “Con trai bây giờ tán gái mà như gạ ca ve”. 

Tôi bảo: “Vì xã hội thôi! Thầy giáo hẹn sinh viên đưa luận văn ra quán cà phê vườn là chuyện thường”. Mân bảo: “Chỉ giỏi nói xấu các cụ. Hãy làm được như các cụ rồi hãy phê nhá”. 

Ai cũng nghĩ giữa tôi và Mân có một cái sự gì đó, đã xảy ra. Tôi là người đàn ông duy nhất của trụ sở kiêm biệt thự, phòng khách nguyên là cái buồng của một tên thực dân. Người ta tin thế, người đàn ông duy nhất biết một Mân khác, không xõa tóc gọi điện thoại thì thầm, không cười một mình trong góc tối.

“Nó là người như thế nào”. Thường nghe câu hỏi ấy, tôi đáp: “Làm sao em/ cháu, biết được”. Chẳng ai tin.

Buổi trưa người ta nấp sau cửa kính nhìn hai chúng tôi ngồi trên cái ghế đá vỡ sau cơ quan, cạnh lối vào chuồng xí, dưới cây sấu u bướu đầy đau khổ và hăm dọa. Chúng tôi quen nếp ở quê, ít ngủ trưa, có chợp mắt thì Mân dựa vào vai tôi. Tôi có thể hôn nhẹ lên tóc của Mân. Cái mái tóc tung bay sau lưng mẹ nó hôm nào. Làng tôi làm nghề, làng Mân cấy lúa. Một hôm mẹ chở Mân đi trên con đường có nhiều bụi chuối dại xác xơ, Mân ngồi sau xe đạp, ôm chặt mẹ, dụi đầu vào lưng mẹ, cái mái tóc nó khi ấy đã dài tới dây thun quần rồi. Đôi mắt nó nhắm nghiền, mà khuôn mặt rạng rỡ quá. Tôi đứng bên đường ôm cặp nhìn nó. Mẹ tôi đã qua đời dạo Mỹ ném bom tan hoang họ hàng nhà cửa. Tôi nhớ khuôn mặt ấy, tôi yêu khuôn mặt ấy mái tóc ấy ư, Mân?

Chúng tôi đi học qua con khe không rộng mà sâu.

Mùa mưa, Mân bơi trước tôi, hai cái ống quần lụa đen của nó đập nước tung tóe trước mũi tôi. Bàn chân bé xíu.

Lên cấp hai, nó vẫn ngồi gần tôi. Một hôm khóc òa, suýt ngất. Cái ghế nó ngồi tự dưng ướt đẫm máu. Cả lớp khóc như ri, cô giáo cười bảo: “Bạn Mân đã trở thành thiếu nữ”. Thiếu nữ là gì? Tôi không biết.

Nó ít về quê quá thể. Tôi về, nó gửi cầm cho mẹ cân giò lụa. Bà cụ bảo: “Mày làm cách gì cho tao có cháu ngoại bồng là được”. Tôi lắc đầu: “Con chịu”. Mẹ bảo: “Con ngốc lắm. Càng nghĩ nhiều càng ngốc lắm con ơi”. 

Mân và tôi chẳng bao giờ làm chồng vợ của nhau. Chẳng hiểu vì sao. Mà sao lúc nào tôi cũng nghĩ Mân là vợ tôi, là người tôi yêu? Tôi sở hữu giấc mơ và khát khao của mình như sở hữu những gì có thực, như cái dây lưng mới mua, cái cặp mới được tặng trong cuộc họp. Tôi có phải là một thằng ngu không? Tôi tặng Mân hai mét rưỡi lụa Hà Đông, Mân hỏi: “Cụ biết tôi thích gì không?”. Tôi không biết.  

Tôi hứa tôi sẽ chuyển cơ quan. Tôi đã định xin chuyển cơ quan rồi ấy chứ. Nhưng Mân lại bảo: “Lương đâu cũng thế, việc đâu cũng thế. Mình chẳng có ô dù gì”. Tôi muốn xin vào làm việc ở doanh nghiệp tư nhân, có lẽ làm ra nhiều tiền sẽ được hưởng lương cao, mình có thể gắng sức mà chẳng sợ ai bảo là kẻ có mưu toan gì. Nào có mưu toan gì ngoài việc kiếm miếng ăn đâu! Nhưng Mân lại bảo: “Cụ không chịu được nhiệt đâu”.

Một hôm, tôi bảo với lãnh đạo xin đi nắm tình hình cơ sở. Lãnh đạo bảo: “Cậu thì nắm được cái củ khoai. Đời nào người ta báo cáo thật với cậu mà nắm”. Các chị thì bảo: “Này hâm vừa vừa kẻo ế đấy! Tiền đâu ra mà chi công tác phí. Ngồi ở nhà nghĩa là sinh lợi nhanh nhất đấy chú em ạ. Có buồn thì đem báo ra toa lét mà đọc, cả buổi”.  

Lắm lúc nghĩ bụng: “Cơ quan thừa không dưới bảy mươi phần trăm nhân lực”. Nhưng lại mong hai đứa là những kẻ bị giảm biên sau cùng.

Người ta bảo tôi si tình, chứ  không lụy vì tình thì bằng cấp như thế, năng lực như thế, ai lại chấp nhận làm cái việc như thế. Tôi nghĩ, đấy là một ân huệ mà Mân dành cho tôi, những buổi trưa dưới cây sấu già sọm. Tôi vẫn ngày ngày dọn dẹp cái góc khuất của Mân, vứt giấy lộn, lau cho nó cái bàn, đôi khi vứt giấy ăn, nhặt hạt ô mai héo.

Mân là toàn bộ những ký ức làng quê của tôi, hôm nay và ngày mai. Tôi không bao giờ sống thiếu nó được, bởi đã bao giờ tôi sống thiếu nó đâu. Nó và tôi như hai cái bóng. Chính nó đem uy tín cá nhân ra để đưa tôi về cơ quan này mà.

Tôi không hiểu mọi người bắt đầu nghĩ khác về tôi tự lúc nào?

Ai làm mối được cứ làm mối. Có nhẽ một trăm phần trăm những tay đàn ông đã bỏ vợ, sắp bỏ vợ hoặc đang làm thủ tục bỏ vợ, những tay hâm hâm, những ông ế ẩm mà vẫn tháng tháng có được đồng lương, nhất là có vài chục mét nhà, phòng ban nào ai biết được hoặc nghe đồn thổi, khắp mọi nơi trong thành phố, đều đã mối lái hết cho Mân.

Mân không từ chối ai cả.

Ai Mân cũng chịu đi xem mặt, cũng đi uống cà phê, uống trà Trân Châu Đài Loan, nghe điện thoại.

“Không hiểu nó nghĩ thế nào”. Ai cũng bảo thế. Mân ngồi trong góc tối, xõa mái tóc dài, nghe điện thoại và tủm tỉm, cỡ một tiếng mỗi cuộc.  Nhìn cái vẻ mặt chân thành của nó, nghe cái giọng vui vẻ và nghiêm túc của nó, cũng vui lây. Thôi cái điện thoại giao cô quản, bao giờ lấy được chồng cô giả chúng tôi. “Vâng, vâng em cám ơn, em chỉ nghe vài phút nữa, anh ấy bảo con của anh ấy đang lên sởi, phải làm thế nào”.

Buổi chiều, tôi đứng bên những hàng thịt, hàng đậu phụ quanh cơ quan, chờ Mân. Mân cười, bảo: “Cụ đấy à”, rồi rẽ cái xe máy màu xanh lục đi đâu mất. Cái quả thị thơm tho của tôi, đã rụng vào bị của ai?

Tôi trở về nhà và ghi nhật ký. Tôi mắng Mân, tôi thù Mân. Mân đi đâu? Làm gì?

Một buổi chiều Mân gối đầu trên ngực tôi, bảo: “Em sợ. Hôm qua em đến cơ quan anh bạn, mở tủ tài liệu ra. Anh có biết có gì không? Chẳng có một mống sách vở gì toàn rắn rết với hoài nhi động vật, rồi tay gấu, tiết dê. Eo ôi, cứ loay hoay với rắn với rết, toàn xác chết! Sao đời em khổ thế này”. Mân khóc, và hôn tôi. Nhưng tôi vẫn thế. Khi hồi tỉnh, mừng quá, gọi điện, lại ngoài vòng phủ sóng rồi. 

Thỉnh thoảng tôi ra ngoài bưu điện, ngồi trong cái buồng hỏng quạt, gọi cho Mân. Tôi thực lòng không muốn những người đàn ông góa vợ hoặc hứa bỏ vợ kia chiếm hoàn toàn mọi buổi chiều của Mân. Tôi biết họ có nhiều bồ, những người đàn bà hẹn hò với giỏ rau và đậu phụ trước giỏ xe, họ còn đánh cả xe đạp điện đến bờ  hồ nữa chứ.

Tôi gọi cho Mân. Mân cứ hỏi oang oang trong điện thoại: “Cụ đang đâu đấy?” Nghe như xa xôi thực. Mà cả hai đứa đều biết bưu điện cách cơ quan một dãy phố thôi, bên hàng bánh bao thôi. Trò chuyện như ngô rang. Các cô ngạc nhiên hỏi: “Sao, cô lại vớ được một đám muốn li dị vợ hả. Coi chừng, chúng nó còn làm thủ tục hai chục năm nữa, hỏng!”.

***

Khi những người cuối cùng của cơ quan đã trở về, những tay đàn ông nồng mùi tay gấu và rắn hổ trở về, tôi vẫn ngồi bên Mân. Đêm trong bệnh viện yên lặng quá. Chỉ người nhà mới được ngủ lại thôi. Tôi nằm trên cái giường xếp i - nốc, cạnh Mân. Chỉ vài bác sĩ biết chúng tôi không phải vợ chồng.

Mân phát chứng bệnh về não, có khi phải trói chặt. Mân không nhận ra tôi, không nhận ra ai. Người trong cơ quan sợ Mân tự tử nên đã nhét đủ thứ vào miệng Mân, lo cô cắn lưỡi. Kết quả răng rụng gần hết. Những người đàn ông đến thăm, thường chỉ một lần, tôi bảo: “Thôi các bác về đón con đi kẻo trễ”, họ mừng quá, cám ơn rồi vội lục tục ra về. Tôi chẳng bao giờ nói với họ về bệnh tình của Mân. Mỗi khi Mân co giật, tôi ôm chặt Mân vào lòng, và bảo: “Chúng ta sẽ về nhà. Chúng ta sẽ về động Đình”. Mân ngồi im.

Căn bệnh có thể chữa, nhưng cần thời gian, cần môi trường sống thương yêu và đùm bọc, kiên nhẫn. Bác sĩ động viên chúng tôi như vậy, và có thể là như vậy chăng. Tôi bảo bác sĩ : “Chúng tôi vẫn hằng sống trong yêu thương đùm bọc và kiên nhẫn”. Bác sĩ tỏ vẻ ngại, nhưng cũng bảo: “Chúng ta chứng kiến nỗi đau nhiều hơn là chia sẻ”.

Một hôm Mân có thể tự đi tắm. Chúng tôi tắm chung với nhau. Tôi cho Mân nghe bản nhạc quen thuộc của chúng tôi, bản Holiday của ban nhạc Scorpions bằng cái máy cát xét đem theo. Mân ngồi im, nghe được hết bài nhạc. Tôi đặt chiếc điện thoại Nokia vào bàn tay Mân. Mân nắm chặt, ngủ say.

Rồi tôi phải trở lại cơ quan và Mân được đưa về quê tĩnh dưỡng. Cái điện thoại của phòng tôi hầu như bị mốc. Nó được chuyển ra bàn ngoài cùng. Nó đổ chuông như vãi đạn. Chẳng ai muốn nhấc. Bởi nhấc lên a lô thì đầu dây bên kia sập xuống cạch một cái. Tết tôi về.

Nhưng rồi tôi về trước Tết. Khi chúng tôi đến đầu làng, tôi mới biết Mân đã khỏe rồi. Nhưng mẹ lại mời ông thầy cúng đến giải tà. Mân chẳng phản đối, cứ ngồi như thế, tay cầm chặt cái điện thoại hết pin tự bao giờ, gần một ngày trời,  rồi ngã quay lơ. Nhẽ ra cấp cứu cần đưa đến bệnh viện gần nhất, nhưng lại chở Mân lên thành phố!

Theo phong tục, Mân không được đưa về làng và mẹ cũng không được theo Mân ra đồng.

Chúng tôi men theo khe nước đi lên đồi Mồ. Cái đồi ngày xưa cây cối tốt tươi như thế, hai chúng tôi lạc chỉ có hú mới tìm được nhau, mà bây giờ thành đồi trọc, chẳng khác gì Mân lúc ở viện chẳng còn sợi tóc nào. Tôi muốn ôm lấy đồi, mà hôn, mà khóc.

Tiễn Mân có toàn bộ các phòng, ban. Đầy hai xe ô tô, trừ vài người ở lại trông cơ quan.

Ai cũng thương và xót cho Mân. Và cũng chẳng ai hiểu Mân là người thế nào. Họ cũng thương cho tôi nữa. Tôi biết, và trân trọng tình cảm ấy.

Mọi người ngồi dưới bóng cây và bàn tán chuyện gì đấy. Có lẽ họ nói về tôi chăng? Tôi nhìn những người làng ném những viên đất quen thuộc lên trên quan tài. Tôi đứng như thế giữa ngọn đồi thân thương và vô cùng quen thuộc, nơi hai chúng tôi đuổi nhau và chia từng trái sim chín lúc chiều tà. Nơi Mân đã hôn tôi, làm tôi sửng sốt. Nơi chúng tôi cùng cưỡi một con trâu trắng và cùng ngã quay đơ.

- Mân ơi, Mân ở đâu rồi ?

Tôi ngoảnh đầu nhìn lại những người cơ quan đang ngồi dưới gốc cây, tờ báo mới đội đầu. Không thấy Mân đâu cả.

Tôi cầm cái điện thoại lên và bấm gọi Mân. Máy tạm thời không liên lạc được. Tôi cứ đứng thế, như trời trồng.

Và khi mọi người gọi tôi ra xe, tôi chỉ còn kịp vùi cái điện thoại cũ vào trong nấm mộ mát như da của Mân.