Vụ kiện đòi lại đất được cho là “cho mượn bằng miệng”
Nguyên đơn đòi lại gần 1.500m2 đất được cho là “cho mượn làm đường đi vào rẫy, làm sân phơi nông sản gần 30 năm trước”.
Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Minh Đức (SN 1952, ngụ xã Ea Knốp, tỉnh Đắk Lắk), năm 1997 ông cho vợ chồng ông L (ngụ xã Ea Kar) mượn gần 1.500m2 làm đường đi vào rẫy, làm sân phơi nông sản. Năm 2021, ông có nhu cầu sử dụng nên đòi lại phần đất trên, nhưng không được trả, nên kiện ra tòa.
Theo đơn, trong diện tích trên, hơn 340m2 đã được sử dụng làm đường đi xuống rẫy ông L, phần còn lại bị gia đình em rể ông L lấn chiếm.
Kết quả đo đạc hiện trạng sử dụng và lồng ghép sổ đỏ để phục vụ giải quyết vụ án của TAND huyện Ea Kar (cũ) thể hiện: Tổng diện tích đất của ông Đức theo hiện trạng sử dụng là 8.222m2 (sổ đỏ 8.775m2 ). Diện tích đất tranh chấp theo kết quả lồng ghép bản đồ có gần 1.080m2 nằm trong sổ đỏ ông Đức (thửa 04, tờ bản đồ 34, UBND huyện cấp năm 2003).
Tại Bản án 13/2026 hồi tháng 5/2026 của TAND Khu vực 7 nhận định: Với yêu cầu đòi ông L trả lại hơn 340m2 làm đường đi, xét về nguồn gốc hình thành con đường, theo trình bày của các bên đương sự, được hình thành từ trước năm 1997,sử dụng chung cho các hộ dân canh tác bên trong để làm đường đi lại.
Căn cứ kết quả xác minh tại địa phương, con đường tranh chấp có thể hiện trên tờ bản đồ 34, được phê duyệt vào tháng 12/1998, là con đường công cộng, lối đi chung cho các hộ dân, trong đó có gia đình ông L. Ông Đức cho rằng con đường này là đất của mình cho bị đơn mượn, nhưng không lập văn bản mà chỉ bẳng lời nói, không có người làm chứng, không được bị đơn thừa nhận. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận.
Với yêu cầu buộc vợ chồng em rể ông L trả lại hơn 1.000m2 đất, tòa nhận định: Xét về nguồn gốc đất của ông Đức có được từ việc nhận chuyển nhượng một phần mặt dưới của ông L và phía trên giáp Tỉnh lộ 19 của một người khác năm 1997. Đến năm 2003, thửa đất được cấp sổ đỏ. Thời điểm nhận chuyển nhượng chỉ xác định khoảng đất mua bán, không xác định diện tích và tứ cận.
Với thửa 4C, tờ bản đồ 34 của em rể ông L có nguồn gốc từ việc ông L cho tặng, đã được cấp sổ đỏ tháng 3/2006. Theo kết quả đo vẽ, lồng ghép hiện trạng và sổ đỏ thì đất của ông Đức theo hiện trạng sử dụng 8.222m2 (trong sổ đỏ 8.775m2 ); đất của em rể ông L theo hiện trạng 2.289,2m2 (sổ đỏ 3320m2 ). Như vậy, cả 2 thửa đất theo hiện trạng đều không đủ diện tích so với sổ đỏ.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng đất từ thời điểm nhận chuyển nhượng đến nay, ranh giới không có sự thay đổi. Diện tích tranh chấp từ thời điểm nhận chuyển nhượng đến nay không canh tác, quản lý, sử dụng. Đồng thời, phần diện tích đất đòi em rể ông L trả lại được ngăn cách với đất ông Đức theo hiện trạng con đường đất chạy dọc theo ranh giới hai bên. Ông Đức không chứng minh được hành vi lấn chiếm của em rể ông Lvới đất của mình, nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Bản án sơ thẩm không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của phía ông Đức. Nguyên đơn kháng cáo. Tháng 9/2026, TAND tỉnh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, tuyên y án sơ thẩm.
Phía ông Đức cho rằng diện tích đất nhà mình đang sử dụng còn thiếu 13m mặt tiền so với sổ đỏ được cấp; cho rằng cần làm rõ việc cho mượn đất chỉ nói miệng với nhau là có hợp pháp hay không; nên đã có đơn đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.