Vụ án 163,7 chỉ vàng

Năm 2008, bà Nguyễn Thị Tâm (Kiên Lương, Kiên Giang) đến cơ sở dịch vụ cầm đồ của bà Nguyễn Thị Nguyệt để cầm 163,7 chỉ vàng 24k. Sau đó, do có tranh chấp về lãi suất nên các bên đưa nhau ra Tòa án giải quyết.

Năm 2008, bà Nguyễn Thị Tâm (Kiên Lương, Kiên Giang) đến cơ sở dịch vụ cầm đồ của bà Nguyễn Thị Nguyệt để cầm 163,7 chỉ vàng 24k, trong đó có 115 chỉ vàng (loại vàng thẻ) và 48,7 chỉ vàng 24k gồm dây chuyền, mặt dây chuyền, lắc và nhẫn để vay 237 triệu đồng. Sau đó, do có tranh chấp về lãi suất nên các bên đưa nhau ra Tòa án giải quyết.

Ngày 16/10/2009, TAND huyện Kiên Lương đưa vụ án tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Tâm và bị đơn Nguyễn Thị Nguyệt ra xét xử. HĐXX cấp sơ thẩm tuyên: “Buộc bà Nguyễn Thị Tâm phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Nguyệt vốn gốc và lãi suất là 283.505.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Nguyệt giao trả 163,7 chỉ vàng 24k (theo biên nhận cầm cố cụ thể là 115 chỉ vàng 24k (loại vàng thẻ) và 48,7 chỉ vàng 24k gồm ba sợi dây chuyền, hai mặt dây chuyền bằng vàng, hai chiếc lắc và ba chiếc nhẫn). Việc giao nhận tiền và vàng cùng một thời điểm”. Bà Nguyệt có đơn kháng cáo.

Vàng gì cũng là vàng?

Ngày 7/1/2010, TAND tỉnh Kiên Giang mở phiên xử phúc thẩm. HĐXX cấp phúc thẩm nhận định: án sơ thẩm chấp nhận cho bà Tâm chuộc lại toàn bộ đồ cầm cố là có căn cứ. Tuy nhiên, việc áp dụng mức lãi suất chưa thỏa đáng, làm thiệt thòi quyền lợi chính đáng của bị đơn nên cần thiết phải sửa phần lãi suất và án phí cho phù hợp.

Do vậy, HĐXX phúc thẩm sửa bản án sơ “Buộc bà Tâm phải trả cả vốn lẫn lãi cho bà Nguyệt là 348.440.000 đồng. Buộc bà Nguyệt trả 163,7 chỉ vàng 24k. Việc giao nhận tiền và vàng tại cùng một thời điểm”.

Sau khi án có hiệu lực, bà Tâm nộp 348.440.000 đồng. Sau đó, bà Nguyệt nộp 163,7 chỉ vàng 24k cho Cơ quan Thi hành án dân sự (THA) huyện Kiên Lương. Cơ quan THA Kiên Lương đã chi trả số tiền mà bà Tâm đã nộp cho bà Nguyệt và mời bà Tâm lên nhận vàng. Khi chấp hành viên đem vàng ra giao, bà Tâm mới “té ngữa” vì số vàng bà Nguyệt giao cho cơ quan Thi hành án là vàng 24k loại 90%, không đúng với số vàng mà trước đây bà đã cầm cố cho bà Nguyệt nên khiếu nại. Cơ quan THA Kiên Lương cho rằng, họ đã làm đúng theo phần quyết định mà bản án phúc thẩm đã tuyên là nhận đúng 163,7 chỉ vàng 24k.

(ảnh minh họa)
(ảnh minh họa)

Chỉ giải thích án hay phải Giám đốc thẩm?

Bà Tâm có đơn khiếu nại gửi TAND tỉnh Kiên Giang. Ngày 16/6/2010, TAND tỉnh Kiên Giang có văn bản gửi Chi cục THA huyện Kiên Lương cho rằng: “Việc TAND tỉnh Kiên Giang tuyên trong bản án không nêu rõ cụ thể từng loại vàng mà bà Nguyệt phải có trách nhiệm trả lại cho bà Tâm mà chỉ xác định chung tổng sống vàng (163,7 chỉ) là có thiếu sót. Tuy nhiên, tại phần nhận định có phân tích rõ nội dung về các biên nhận cầm đồ.

Như vậy, mặc dù trong phần quyết định của bản án không tuyên cụ thể nhưng bà Nguyệt vẫn phải giao trả toàn bộ số đồ bà Tâm đã cầm cố theo từng biên nhận là phù hợp với nội dung nhận định của bản án. Cụ thể, bà Nguyệt phải hoàn trả cho bà Tâm 115 chỉ vàng 24k (loại vàng thẻ) và 48,7 chỉ vàng 24k gồm ba sợi dây chuyền, hai mặt dây chuyền bằng vàng, hai chiếc lắc và ba chiếc nhẫn”.

Tuy nhiên, THA Kiên Lương lại không đồng ý với cách giải thích án này của TAND tỉnh Kiên Giang. THA Kiên Lương cho rằng, họ chỉ thực hiện quyết định của bản án. Bản án cấp phúc thẩm tuyên không cụ thể, sau đó giải thích bằng công văn có sự khác biệt sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án. Căn cứ Khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án…”. Cơ quan THA không chấp nhận giải thích án của TAND tỉnh Kiên Giang. THA Kiên Lương hướng dẫn bà Tâm yêu cầu TAND Tối cao xét lại theo trình tự giám đốc thẩm để đảm bảo quyền lợi.

Thế nhưng, các luật dư cho rằng trên thực tế mặc dù bản án tuyên không cụ thể nhưng ở phần nhận định của bản án đã nói rõ thì phần giải thích án lấy đó làm căn cứ để giải thích cho cơ quan THA thi hành. Trong vụ án tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản này, phần nhận định bản án phúc thẩm đã nêu rõ về các biên nhận cầm đồ, số đồ đã cầm... nhưng trong phần quyết định, bản án chỉ tuyên tổng sống vàng mà không giải thích cụ thể là lỗi kỹ thuật. Do vậy, TAND tỉnh Kiên Giang có văn bản giải thích là có cơ sở.

Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, cả hai cấp tòa, các bên đương sự không tranh chấp số vàng đã cầm cố mà chỉ tranh chấp phần lãi suất của hợp đồng cầm cố. Mặt khác, bản án phúc thẩm chỉ sửa án sơ thẩm lãi suất. Như vậy, toàn bộ án sơ thẩm đã tuyên nhưng án phúc thẩm không sửa án đương nhiên có hiệu lực. Ở đây, phần quyết định của án phúc thẩm tuyên không cụ thể, cơ quan THA Kiên Lương có thể áp dụng phần án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật đã tuyên rõ ràng, cụ thể để làm căn cứ thi hành.

Theo Gia Khang
Đất Việt