"Vô tư" phạm luật môi trường

Các quy định về BVMT đã không được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. Từ năm 2008 đến nay, mỗi năm lực lượng cảnh sát môi trường phát hiện gần 1000 vụ việc vi phạm pháp luật về BVMT cho thấy tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này tương đối phổ biến.

Khái niệm về phát triển bền vững xuất hiện chưa lâu (vào những năm 80 của thế kỷ trước) nhưng đã nhanh chóng phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Trong điều kiện hiện tại, hệ thống văn bản pháp luật kinh tế của nước ta thực sự đã trở thành nền tảng cho sự phát triển bền vững.

Pháp luật - lực lượng vật chất trong phát triển

Về pháp luật kinh tế để bảo đảm phát triển bền vững thì các chuyên gia đánh giá, lĩnh vực này được Nhà nước đặc biệt quan tâm, cả về số lượng văn bản cũng như nội dung thể hiện, trong đó không thể không nói đến vai trò của Hiến pháp. Những quy định cơ bản về chế độ kinh tế trong Hiến pháp 1992, của Bộ luật Dân sự cùng các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) quan trọng khác như Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Hợp tác xã, Luật Đất đai, Luật Dầu khí, Luật Khoáng sản, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Hải quan, các luật về thuế… và việc ký kết một số điều ước quốc tế quan trọng đã tạo ra một hành lang pháp lý cơ bản cho phát triển bền vững ở nước ta.

Theo PGS – TS. Nguyễn Viết Tý, với quy định về chế độ kinh tế, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận bản chất của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Đó là nền kinh tế đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế, được vận hành theo cơ chế thị trường. Ngoài ra, các nội dung khác của phát triển bền vững như vấn đề tiết kiệm, về sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, về bảo vệ môi trường cũng đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Đây là những cơ sở kinh tế - pháp lý cơ bản đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.

Có thể nói rằng, không dựa trên những quy định gốc về chế độ kinh tế của Hiến pháp 1992 thì không thể xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống các VBQPPL về kinh tế - dân sự - lao động đồng bộ và thống nhất như hiện nay. Và, do đó không thể có vốn để đầu tư, không thể có công nghệ tiến tiến để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. “Nhờ có các quy định nền tảng về kinh tế của Hiến pháp 1992, pháp luật nói chung, đặc biệt là pháp luật về kinh tế nói riêng thực sự trở thành một lực lượng vật chất góp phần xây dựng và phát triển kinh tế nước nhà trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua”, GS-TS. Trần Ngọc Đường (Văn phòng Quốc hội) nhấn mạnh.

Chưa hết luật “ống”, luật “khung”

Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật kinh tế tương đối đầy đủ để điều chỉnh quá trình phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Nhưng PGS – TS. Nguyễn Viết Tý cho rằng, nhiều quy định còn mang tính “luật khung, luật ống”. Điều đó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật kinh tế trong tiến trình phát triển bền vững.

GS-TSKH. Đào Trí Úc (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận định, nếu coi chính sách pháp luật vì sự phát triển bền vững là cơ sở định hướng cho quá trình xây dựng pháp luật của cơ chế xây dựng pháp luật dân chủ và minh bạch thì Luật Ban hành VBQPPL 2008 đã được đổi mới căn bản theo hướng trên. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều mặt yếu kém về khung thể chế đối với phát triển pháp lý toàn diện. Chất lượng của các luật vẫn còn yếu và không đồng nhất, quá trình xây dựng các văn bản pháp quy chưa khuyến khích được sự tham gia của các cơ quan nhà nước liên quan, các chuyên gia và các tổ chức phi Chính phủ trong nước.

Tại Đề án nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật của Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 933/QĐ-TTg ngày 27/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra một số yếu tố làm giảm chất lượng xây dựng pháp luật như “tính cục bộ, chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của một số ngành thể hiện rõ trong việc xây dựng, trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua các Dự án. Bộ, Ngành nào cũng muốn kéo theo quyền, lợi ích và thuận lợi về phía mình khi xây dựng Luật, Pháp lệnh, đồng thời đẩy những khó khăn, vướng mắc cho Chính phủ”.

Vô tư vi phạm pháp luật

Rất nhiều chuyên gia cho rằng, nội dung chính của phát triển bền vững là tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhưng việc tăng trưởng và phát triển kinh tế phải đáp ứng các yêu cầu phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. TS. Vũ Thu Hạnh (Trường ĐH Luật Hà Nội) nói: “Trong mối quan hệ với phát triển bền vững, pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT) hiện hành không quy định nghĩa vụ BVMT một cách chung chung cho tất cả các đối tượng nữa mà quy định nghĩa vụ cụ thể đối với từng chủ thể, từng hoạt động, từng loại hình dự án, thậm chí từng khâu, từng giai đoạn của quá trình hình thành và chấp thuận dự án”. TS. Vũ Thu Hạnh dẫn chứng, điều này thể hiện rõ ở các quy định của Luật Thủy sản 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật BVMT 2005, Luật Đa dạng sinh học 2008…

Có điều, các quy định về BVMT vì mục tiêu phát triển bền vững hiện mới tồn tại chủ yếu trong các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường, còn các lĩnh vực khác thì nội dung BVMT chỉ được đề cập một cách chung chung, mờ nhạt. Bên cạnh đó, các yêu cầu về phát triển bền vững thường được thể hiện trong các văn bản pháp luật ở cấp trung ương, trong khi cấp địa phương lại khá khiêm tốn dù rằng đây là yếu tố quyết định. Đáng chú ý là các quy định về BVMT không được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. Năm 2008, gần 1.000 vụ vi phạm pháp luật về BVMT được lực lượng cảnh sát môi trường phát hiện; 244/305 cơ sở sản xuất kinh doanh được thanh, kiểm tra có biểu hiện vi phạm pháp luật BVMT năm 2009; trong 9 tháng đầu năm 2010, đã lập 113 biên bản xử phạt vi phạm hành chính về BVMT với tổng số tiền phạt 4,2 tỷ đồng… đã cho thấy tình trạng vi phạm pháp luật về BVMT diễn ra tương đối phổ biến tại Việt Nam.

Uyên San