Cơ hội lớn và thách thức lớn
Tuy còn nhiều bước và nhiều khâu công việc phải tiến hành nhưng khả năng Việt Nam gia nhập WTO vào cuối năm 2006 là rất khả quan. Sự kiện này không chỉ mở ra một cơ hội lớn mà còn là sự thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng. Về cơ hội, Việt Nam trở thành thành viên WTO, nghĩa là các doanh nghiệp Việt Nam có một sân chơiiii toàn cầu, rộng lớn, thoả chí tung hoành chỉ cần có khả năng. Toàn cầu hoá tạo sự phát triển và xã hội hoá rất mạnh của lực lượng sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng, đưa lại sự tăng trưởng cao; cải cách sâu rộng nền kinh tế của mỗi quốc gia để bắt kịp với các nước khác trên thế giới. Sắp tới đây, khi được Quốc hội Mỹ thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễnnnn với Việt Nam. Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận rộng rãi hơn các thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý kinh tế tiên tiến của Mỹ cũng như các nước phát triển vào sự phát triển kinh tế của chúng ta. Các nhà đầu tư Mỹ và các nước khác trong WTO sẽ có nhiều cơ hội và yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt Nam. Người tiêu dùng sẽ được hưởng những lợi ích của nền kinh tế toàn cầu mang lại.
Bên cạnh đó, sẽ có nhiều thách thức mà chúng ta phải đối mặt. Thời gian tới, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được thông báo rộng rãi về các kết quả thoả thuận qua các vòng đàm phán để doanh nghiệp có kế hoạch tham gia hội nhập một cách tích cực nhất. Theo một số nguồn thông tin, một trong các điều khoản đàm phán là phải sau 12 năm gia nhập WTO, Việt Nam mới được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường (Trung Quốc sau 15 năm). Chừng nào Việt Nam chưa được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp Việt Nam vẫn sẽ phải rất thận trọng trước những vụ kiện bán phá giá được Mỹ và các nước có nền kinh tế phát triển áp dụng như một quả đấmmmm trong trường hợp không ngăn cản được sự phát triển nhanh chóng của doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường của họ trong một lĩnh vực nào đó. Một số điều khoản khác nằm trong nội dung đàm phán như Việt Nam phải bãi bỏ hoàn toàn các khoản trợ cấp, trợ giá đối với hàng xuất khẩu, kể cả nông, thuỷ sản, hàng dệt may...Các mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ sẽ có thuế nhập khẩu từ 15% trở xuống. Các sản phẩm, thiết bị xây dựng, dược phẩm, linh kiện máy bay có thuế xuất từ 0 đến 5%. Các lĩnh vực Việt Nam phải mở cửa rộng hơn là viễn thông, tài chính và năng lượng...Như vậy, cùng với việc không được trợ cấp, trợ giá, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu sự cạnh tranh lớn của các doanh ngiệp nước ngoài vào Việt Nam do không còn được bảo hộ về chính sách thuế nhập khẩu. Các doanh nghiệp trong các lĩnh vực này sẽ phải không ngừng vươn lên hơn nữa đủ sức cạnh tranh và hội nhập.
Doanh nghiệp cần hội nhập sâu, rộng hơn nữa
Theo các nhà kinh tế, những vấn đề doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém là sự hiểu biết pháp luật quốc tế và thiếu cập nhật thông tin. Điều này có thể do thói quen và cơ chế quan liêu, bao cấp trong một thời gian dài để lại. Song đã đến lúc doanh nghiệp không thể chần chừ được nữa mà phải thay đổi cách nhìn về hội nhập kinh tế quốc tế. Trong một sân chơi rộng lớn và bình đẳng, kẻ mạnh sẽ có nhiều cơ hội chiến thắng. Các doanh nghiệp nước ngoài hơn hẳn ta về công nghệ, trình độ sản xuất, chất lượng sản phẩm lẫn khả năng chiếm lĩnh thị trường. Bài học từ Trung Quốc cho thấy, khi bắt đầu hội nhập, cứ một doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài vào Trung Quốc có 3 doanh nghiệp bán lẻ nội địa bị phá sản. Chỉ trong một lĩnh vực nhỏ đã cho thấy sức ép của hội nhập. Doanh nghiệp Việt Nam phải làm gì để không bị thua thiệt ngay trên sân nhà cũng như đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài trên sân chơi quốc tế ?
Cùng với tiến trình hội nhập, vai trò của các hiệp hội kinh tế cần được phát huy hơn nữa. Các hiệp hội phải đại diện được cho tiếng nói của doanh nghiệp cũng như thay mặt doanh nghiệp trong những vụ việc như các vụ kiện chống bán phá giá thời gian qua, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp. Ngoài ra, các doanh nghiệp sẽ phải quan hơn đến việc tự vận động để phát triển trong một nền kinh tế thị trường toàn diện và minh bạch. Sẽ không còn sự bao cấp của nhà nước trong nhiều lĩnh vực để trông chờ, ỷ lại, nhất là khu vực sản xuất hàng xuất khẩu bởi vậy, từ việc đầu tư đến nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược và sách lược hợp lý, hiệu quả. Ngoài ra, doanh nghiệp cần có sự nắm bắt thông tin kịp thời và nhạy bén hơn. Công tác xúc tiến thương mại và quảng bá, giới thiệu sản phẩm cần được làm tốt hơn nữa để khẳng định uy tín thương hiệu.
Về phía Nhà nước cũng có nhiều việc cần phải làm. Trước hết đó là việc xây dựng hệ thống pháp luật rõ ràng và đáp ứng yêu cầu hội nhập; có chính sách đổi mới và phát triển doanh nghiệp hiệu quả cũng như các cơ chế, chính sách tự vệ trên sân nhà phù hợp với các thông lệ quốc tế để có căn cứ bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp nộiiii. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước cũng cần đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách hành chính để nâng cao năng lực quản lý và điều hành, hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập.