Việt Nam tham gia Công ước UNESCO về chống doping trong thể thao
Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý với đề nghị của Bộ VH, TT&DL về việc tham gia Công ước UNESCO chống doping trong thể thao.
Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý với đề nghị của Bộ VH, TT&DL về việc tham gia Công ước UNESCO chống doping trong thể thao.
Thủ tướng Chính phủ cũng đã giao cho Bộ VH, TT&DL làm đầu mối thực hiện Công ước này. Theo ông Nguyễn Văn Phú, Uỷ viên điều hành của Hội đồng chống doping Đông Nam Á thì đây được xem là bước tiến mới của thể thao VN trong công cuộc phòng chống doping.
Từ nhiều năm nay, thể thao Việt Nam cũng đã quan tâm tới công tác phòng chống doping trong các hoạt động TDTT. Tuy nhiên, do những khó khăn nhất định như thiếu đội ngũ chuyên gia y học thể thao lành nghề, thiếu cơ sở vật chất, không có phòng xét nghiệm doping nên công tác này gặp phải khá nhiều khó khăn. Ngay tại SEA Games 22, VN có tới 4 VĐV bị phát hiện dương tính với doping và sau này cũng có thêm vài trường hợp nữa, khiến cho việc Phòng chống doping trở nên cần kíp hơn bao giờ hết. Tháng 11.2003 Việt Nam đã tham gia vào Công ước Copenhagen về phòng chống doping do Tổ chức Phòng chống doping thế giới khởi xướng. Năm 2004, Công ước này có hiệu lực thi hành. Năm 2006, Uỷ ban Olympic thế giới đưa ra một tiêu chí mới với những quốc gia muốn giành quyền đăng cai các đại hội thể thao tầm cỡ châu lục và thế giới là phải tham gia vào Công ước của UNESCO về chống doping trong thể thao. Sau một thời gian chuẩn bị kỹ càng, Việt Nam sẽ chính thức tham gia vào việc thực hiện Công ước này như một cam kết đầy sức thuyết phục về quyết tâm phòng chống doping trong các hoạt động TDTT. Điều đó cũng đã mở ra cơ hội với Việt Nam trong việc đua tranh giành quyền đăng cai những sự kiện thể thao lớn của thế giới và châu lục.
Việc tham gia vào Công ước này cũng sẽ dẫn tới nhiều “lợi nhuận” cho công tác phòng chống doping trong các hoạt động TDTT ở Việt Nam. Đó là việc sẽ được UNESCO hỗ trợ các chương trình giáo dục kiến thức về phòng chống doping trong thể thao.
Tuy nhiên, để không là “lời nói suông”, Việt Nam cũng sẽ phải nỗ lực hơn nữa trong công tác phòng chống doping của mình. Đó là việc lấp vào lỗ hổng về kiến thức phòng chống doping cho phần lớn HLV, VĐV và đội ngũ bác sĩ thể thao chuyên theo dõi các đội... Các chương trình nâng cao kiến thức phòng chống doping sẽ tập trung vào việc phổ biến các kiến thức về thuốc, thực phẩm bổ sung, đặc biệt là luật doping... Trong 2 năm gần đây, riêng với bộ môn bóng đá, các khoá đào tạo HLV bằng A, B, C cũng đã được đưa vào chương trình giảng dạy các kiến thức về phòng chống doping. Nếu sắp tới, công tác phòng chống doping của VN phát triển hơn nữa thì tất cả các môn thể thao đều được phổ cập những kiến thức cơ bản này.
Hiện tại, công tác xét nghiệm doping của VN mới chỉ dừng ở mức lấy mẫu và gửi đi xét nghiệm. Một dự án về việc xây dựng phòng xét nghiệm doping được ấp ủ trong nhiều năm chắc chắn sẽ được thực hiện. Nếu điều này trở thành hiện thực, Việt Nam lại có thêm lợi thế so với những nước muốn đăng cai mà không có phòng xét nghiệm doping. Điều quan trọng không kém là khi có một phòng xét nghiệm doping ngay trong nước sẽ giúp hạn chế được nhiều rủi ro cho các VĐV khi thi đấu quốc tế.
Nguồn: Báo Văn hóa