Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm 3 Đông Nam Á về AI

Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm 3 Đông Nam Á về AI
Trải nghiệm gian hàng Quốc gia AI tại Triển lãm 80 năm thành tựu đất nước. (Ảnh minh họa: VGP)

Chiến lược quốc gia về Trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng AI công vụ hằng tuần; 60% quyết định chỉ đạo, điều hành của cơ quan quản lý được hỗ trợ bởi dữ liệu và AI. Đây được xem là bước chuyển từ ứng dụng AI đơn lẻ sang chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI.

Từ ứng dụng AI đến chuyển đổi quốc gia bằng AI

Chiều 28/8, tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ, ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghiệp Công nghệ thông tin, thông tin chi tiết về Quyết định số 1671/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia về Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định số 1671/QĐ-TTg có hiệu lực ngay từ ngày ký 28/8/2026, thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021.

Theo ông Nguyễn Khắc Lịch, Chiến lược mới xác định một bước chuyển quan trọng: từ “nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI” sang “nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI”.

Theo đó, AI không còn được nhìn nhận đơn thuần như một tiện ích hoặc công cụ hỗ trợ kỹ thuật, mà từng bước trở thành năng lực cốt lõi trong quá trình xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội. Để thực hiện định hướng này, Chiến lược xác định nhân lực, hạ tầng kỹ thuật số và dữ liệu là nền tảng; thể chế và quản trị AI là khâu đột phá.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo (Ảnh: MOST)
Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo (Ảnh: MOST)

Quá trình triển khai phải bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo thống nhất, quản lý tập trung, lấy con người làm trung tâm và gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện. Một trong những trọng tâm là phát triển nhân lực chất lượng cao đi đôi với phổ cập kỹ năng AI cho toàn dân; phát triển đồng bộ hạ tầng, dữ liệu, mô hình và nền tảng AI; bảo đảm an toàn, an ninh và chủ quyền AI quốc gia.

Trong hệ sinh thái đó, doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam được xác định là lực lượng chủ lực phát triển sản phẩm, dịch vụ “Make in Viet Nam”, đồng thời hình thành thế hệ doanh nghiệp AI-native.

Hợp tác quốc tế cũng được đặt trong mối quan hệ với việc nâng cao năng lực nội sinh, bảo đảm tự chủ chiến lược và đa dạng hóa đối tác, công nghệ và chuỗi cung ứng.

Mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI hàng đầu trong ASEAN và châu Á.

Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia; AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước và nền kinh tế tri thức.

AI hướng tới đóng góp 6% GDP, xuất khẩu 5 tỷ USD

Một điểm đáng chú ý của Chiến lược là hệ thống mục tiêu được thiết kế theo 4 tầng gồm tác động, kết quả, sản phẩm đầu ra và đầu vào, với các chỉ tiêu cụ thể để theo dõi và đánh giá.

Ở tầng tác động kinh tế - xã hội, Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 3 quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI. Kinh tế AI đóng góp khoảng 6% GDP; năng suất lao động trong các ngành ứng dụng AI tăng 10-15%; kim ngạch xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ và giải pháp AI đạt khoảng 5 tỷ USD. Ở tầng kết quả, 60% doanh nghiệp ứng dụng AI được kỳ vọng cải thiện hiệu quả hoạt động.

Trong khu vực công, mục tiêu đặt ra rất cụ thể: 100% cán bộ, công chức, viên chức ứng dụng AI công vụ và sử dụng hằng tuần; 60% các quyết định chỉ đạo, điều hành của cơ quan quản lý được hỗ trợ bởi dữ liệu và AI. Cùng với đó, mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công có tích hợp AI được kỳ vọng tăng ít nhất 30%. Những mục tiêu này cho thấy AI được đưa trực tiếp vào hoạt động quản lý, điều hành thay vì chỉ được triển khai ở các dự án công nghệ riêng lẻ.

Theo ông Nguyễn Khắc Lịch, đến năm 2030, 100% bộ, ngành, địa phương phải ban hành và thực thi kế hoạch chuyển đổi AI; 100% dịch vụ công trực tuyến và hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ bởi AI. Nếu được triển khai đúng tiến độ, AI sẽ hiện diện ở nhiều công đoạn của hoạt động công vụ, từ xử lý hồ sơ, cung cấp dịch vụ công đến phân tích dữ liệu và hỗ trợ quá trình ra quyết định.

Hình thành hạ tầng và hệ sinh thái AI Việt Nam

Để tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi, Chiến lược đặt ra hàng loạt mục tiêu về sản phẩm và hạ tầng AI. Đến năm 2030, Việt Nam sẽ hình thành nền tảng AI điều phối năng lực tính toán dùng chung và nền tảng đánh giá mô hình AI tiếng Việt; phát triển ít nhất 5 nền tảng AI dùng chung, 10 thương hiệu AI Việt Nam và 8 mô hình AI tiếng Việt theo 4 quy mô.

Cùng với hạ tầng công nghệ, nhân lực được xác định là yếu tố quyết định khả năng hấp thụ và làm chủ AI. Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo 10.000 nhân lực AI trình độ cao; 50.000 nhân lực có trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI. Khoảng 500.000 lao động sẽ được đào tạo, đào tạo lại để triển khai, vận hành AI; 10 triệu lao động đã qua đào tạo được trang bị kỹ năng AI cơ bản.

Như vậy, chiến lược không chỉ hướng tới xây dựng một đội ngũ chuyên gia AI mà còn đặt mục tiêu phổ cập kỹ năng AI trong lực lượng lao động, tạo nền tảng cho việc đưa AI vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý.

Ở tầng nguồn lực đầu vào, tổng đầu tư cho AI của toàn xã hội được đặt mục tiêu đạt 1-1,5% GDP mỗi năm. Năng lực tính toán quốc gia được định hướng đạt khoảng 560 EFLOPS, với công suất điện chuyên dụng khoảng 500 MW. Song song với đó là yêu cầu số hóa, chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu trọng yếu quốc gia và sẵn sàng phục vụ huấn luyện các mô hình AI.

Một điểm đáng chú ý trong tổ chức thực hiện là Chiến lược được cụ thể hóa thành 32 chỉ tiêu và 97 nhiệm vụ, giải pháp thuộc 14 nhóm công tác. Từng nhiệm vụ được xác định theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền.

Việc lượng hóa nhiệm vụ nhằm tạo cơ sở để theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và gắn trách nhiệm cụ thể với từng cơ quan, đơn vị. Theo định hướng của Chiến lược, kết quả chuyển đổi AI thực chất sẽ là một trong những căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu. Đây cũng là cơ sở để điều chỉnh nhiệm vụ, chính sách và ưu tiên phân bổ nguồn lực trong các giai đoạn tiếp theo.

Về cơ chế điều hành, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao vai trò chủ trì triển khai, điều phối liên ngành; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, đo lường và đánh giá việc thực hiện, định kỳ hằng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện. Các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức xã hội và hiệp hội được huy động tham gia vào quá trình triển khai.

Để thực hiện các mục tiêu, Chiến lược xác định 6 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách và hành lang pháp lý cho phát triển, ứng dụng và quản trị AI.

Thứ hai, tăng cường cơ chế điều phối quốc gia, gắn với trách nhiệm thực thi của các cơ quan, đơn vị và người đứng đầu.

Thứ ba, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính, trong đó khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân và toàn xã hội.

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đồng thời xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phục vụ phát triển và ứng dụng AI.

Thứ năm, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và xây dựng văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm, nhằm giúp người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước hiểu đúng về cơ hội cũng như rủi ro của công nghệ.

Thứ sáu, xây dựng hệ thống đo lường, giám sát và đánh giá, bảo đảm Chiến lược được theo dõi thường xuyên, minh bạch và có khả năng điều chỉnh theo thực tiễn.

Nguyệt Thương