Việt Nam cần thị trường vốn mạnh hơn để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng đã ở mức cao, các chuyên gia cho rằng phát triển thị trường vốn là giải pháp quan trọng nhằm đa dạng hóa nguồn lực và đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế.
Sáng nay (23/7), Tạp chí Nhà đầu tư đã tổ chức Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” với sự tham dự của đại diện bộ, ban, ngành Trung ương cùng các chuyên gia kinh tế hàng đầu và đại diện các doanh nghiệp nhằm đề xuất các giải pháp phát triển thị trường vốn nhanh, bền vững, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Phát triển thị trường vốn để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng
Phát biểu khai mạc hội thảo, nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho biết, Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó xác định phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn.

Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, định chế trung gian; khẩn trương triển khai xây dựng và đưa vào vận hành các Trung tâm tài chính quốc tế, khu vực cũng như thúc đẩy lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán trên cơ sở cải cách thực chất về khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng hàng hóa, minh bạch thông tin và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.
Theo Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư, Nghị quyết 10 được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, đảm bảo cho giai đoạn tăng trưởng nhanh, bền vững của nền kinh tế.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026-2030, nhu cầu sử dụng vốn là rất lớn. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân khoảng 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025.
Trong khi đó, cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam ở mức rất cao (khoảng 146% tới cuối năm 2025), thuộc nhóm cao nhất đối với các nước có mức thu nhập trung bình thấp.
Điều này đặt ra không ít thách thức trong công tác điều hành, nhất là đối với vấn đề cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro thanh khoản. Tín dụng trung - dài hạn hiện vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, làm gia tăng rủi ro kỳ hạn và áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
"Hội thảo hôm nay là một trong những hoạt động thiết thực mà Tạp chí Nhà đầu tư triển khai nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, trên tinh thần hành động mà Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn chủ xướng và hối thúc", nhà báo Phạm Đức Sơn nhấn mạnh.
Thị trường vốn cần chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế
Thông tin tại hội thảo, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025. Chỉ trong hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng.

Theo bà Giang, trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ, cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2026. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, kết quả này có sự đóng góp quan trọng của chính sách tiền tệ và tín dụng.
Tuy nhiên, bà Giang cảnh báo hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng.
Đáng chú ý, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.
"Cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng", bà Hà Thu Giang nhấn mạnh.
Cũng theo bà Giang, bên cạnh điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt, cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Đây là những điều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, đồng thời giữ vững ổn định vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính – ngân hàng.

Cùng quan điểm, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia cho rằng, mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, trong khi kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy.
Để đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030 và khoảng 8% trong giai đoạn 2031-2045, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng.
"Vốn tư nhân phải đóng góp gần hai phần ba nhu cầu đầu tư. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn, mà còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn", TS. Cấn Văn Lực nhận định. Theo ông, nguồn lực tài chính cho nền kinh tế hiện chủ yếu đến từ tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư công và vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mỗi kênh đều đang tồn tại những giới hạn nhất định. Kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng.
Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc hệ thống tài chính và các kênh dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn. Thị trường vốn phải phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Còn theo ông Hà Duy Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục mở rộng mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn trung, dài hạn quan trọng của nền kinh tế.
Đến ngày 30/6/2026, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10,8 triệu tỷ đồng, tăng 6% so với cuối năm 2025 và tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Toàn thị trường có 54 doanh nghiệp đạt mức vốn hóa trên 1 tỷ USD, trong đó 4 doanh nghiệp vượt mốc 10 tỷ USD.
"Thị trường chứng khoán ngày càng khẳng định vị thế không thể thay thế, là kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực của nền kinh tế", ông Hà Duy Tùng nhấn mạnh, đồng thời khẳng định: "Nâng hạng thị trường chứng khoán không phải là cái đích cuối cùng, mà là đòn bẩy chiến lược để xây dựng một thị trường vốn chuyên nghiệp, minh bạch và tiệm cận các chuẩn mực tài chính toàn cầu”.