Viện Tài nguyên và Môi trường biển- Mở rộng liên kết hợp tác

Với nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, Viện Tài nguyên và Môi trường biển được đánh giá giữ vai trò đầu tàu ở nhiều lĩnh vực như quản lý tổng hợp vùng bờ biển và quan trắc ô nhiễm môi trường biển, viễn thám đại dương (dự báo ngư trường), bảo tồn biển và đa dạng sinh học…

Hiện nay Viện đang làm nhiệm vụ cơ quan điều phối quốc gia trong chương trình hợp tác đa phương giữa Nhật Bản và 5 nước ASEAN; đầu mối quốc gia tiểu ban khoa học biển của ASEAN về môi trường biển, cỏ biển…Đồng thời, là 1 trong 14 đơn vị được thành phố chọn làm điểm thực hiện Đề án phát triển nhân lực chất lượng cao của Hải Phòng. Mới đây, Phó chủ tịch UBND, Trưởng ban chỉ đạo thực hiện đề án thành phố Hoàng Văn Kể chủ trì cuộc làm việc với tập thể lãnh đạo Viện về công tác này, ghi nhận, đánh giá cao đóng góp của đơn vị vào sự phát triển của thành phố những năm qua, nhất là kinh tế biển.

 

Viện Trưởng Viện Tài nguyên và Môi trường biển, tiến sĩ Trần Đức Thạnh cho biết: Nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là nhu cầu thường trực của các đơn vị nghiên cứu khoa học nói chung, Viện Tài nguyên và Môi trường biển nói riêng, nhất là trong thời điểm hiện nay. Với việc mở rộng chương trình hợp tác, liên kết quốc tế, Viện có thêm điều kiện nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học. Bằng kinh nghiệm thực tế này, Viện có thể góp phần thực hiện đề án phát triển nhân lực chất lượng cao của Hải Phòng. Từ cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Viện đã có chương trình hợp tác với Trung Quốc, Liên Xô trong hoạt động nghiên cứu và đào tạo cán bộ. Nhưng  10 năm gần đây, Viện cũng đối mặt với tình trạng thiếu hụt cán bộ nghiên cứu khoa học. Những cán bộ cũ được đào tạo bài bản tuổi ngày càng cao, lần lượt nghỉ hưu, trong khi đội ngũ cán bộ trẻ chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, thiếu chương trình đào tạo thống nhất. Với việc mở rộng hợp tác quốc tế, tình trạng thiếu hụt cán bộ của Viện dần được khắc phục. Chương trình hợp tác quốc tế của Viện không ngừng được mở rộng về lĩnh vực, từ bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, địa chất biển, đến đào tạo chuyên gia, tăng cường tiềm lực nghiên cứu biển…Hình thức liên kết hợp tác cũng phong phú, đa dạng như: thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu, chương trình khoa học và môi trường biển hoặc đóng vai trò là cơ quan điều phối quốc gia, đại diện Uỷ ban quốc gia thuộc Liên hợp quốc. Các đối tác liên kết được mở rộng với nhiều nước  như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Liên bang Nga, Cộng đồng Châu Âu…, nhiều tổ chức quốc tế lớn như UNEP, UNDP, WESTPAC hay cơ quan phát triển quốc tế Thụy Điển Sida/SAREC… Thông qua việc tham gia phối hợp thực hiện đề tài, dự án, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học được nâng lên, cập nhật kịp thời những thành tựu khoa học và công nghệ về tài nguyên và môi trường biển. Nhiều cán bộ của Viện có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiên cứu và am hiểu các lĩnh vực biển nhiệt tình tham gia nghiên cứu khoa học, góp phần vào thành công của nhiều đề tài do các cơ quan chuyên môn của Hải Phòng tổ chức thực hiện hoặc do Viện chủ trì. Trong đó có những vấn đề liên quan đến quản lý tổng hợp vùng bờ biển và khắc phục ô nhiễm môi trường biển, dự báo ngư trường, bảo tồn biển và đa dạng sinh học…

 

Viện Tài nguyên-Môi trường biển (số 246 phố Đà Nẵng, Hải Phòng) được thành lập năm 2005 trên cơ sở Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng. Chức năng, nhiệm chính của Viện là nghiên cứu khoa học cơ bản, triển khai và ứng dụng công nghệ trong các lĩnh vực về tài nguyên và môi trường biển, vùng bờ biển và hải đảo, tư vấn về chính sách, chiến lược phát triển tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Viện có 13 phòng, ban chuyên môn với 80 cán bộ, nhà nghiên cứu và nhân viên, trong đó có 9 tiến sĩ, 18 thạc sĩ (8 nghiên cứu sinh) và 41 cử nhân với chuyên môn đa ngành về khoa học biển, như vật lý, hóa học, sinh học, viễn thám và GIS…; chủ trì và hợp tác nghiên cứu nhiều đề tài khoa học tầm quốc gia, khu vực, quốc tế.

   

Viện quy định cơ chế khuyến khích cán bộ nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chặt chẽ. Sau 1 năm tập sự, cán bộ nghiên cứu phải có ít nhất một công trình nghiên cứu có bài được đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành;  cán bộ nào trong 3-5 năm không có bài nghiên cứu khoa học được đăng trên báo chuyên ngành sẽ không được xét lao động tiên tiến. Viện khuyến khích cán bộ nghiên cứu chủ động tìm kiếm những học bổng tài trợ trên mạng internet, đồng thời thực hành tiết kiệm hỗ trợ cán bộ một phần kinh phí học tập nâng cao trình độ. Hiện Viện có 8 cán bộ, nhân viên đang làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Đội ngũ cán bộ khoa học của Viện làm chủ các trang thiết bị hiện đại, sánh vai với các nhà khoa học khu vực Đông Nam Á.

 

Nguyên Mai