Vì sao đê thi môn văn tuyển sinh vào lớp 10 gây tranh luận ?
Hiện nay, dư luận cha mẹ học sinh và một bộ phận giáo viên thành phố băn khoăn và bức xúc cho rằng đề thi môn ngữ văn tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2006- 2007 không bảo đảm yêu cầu nội dung chủ yếu trong chương trình lớp 9. Đáp án có chi tiết gây tranh luận.
Phóng viên Báo Hải Phòng gặp gỡ trao đổi với một số giáo viên, và cán bộ chuyên môn về vấn đề này.
Đề thi môn ngữ văn gồm hai phần. Phần một (3 điểm): trắc nghiệm 12 câu, mỗi câu trả lời đúng được 0,25 điểm. Trong đó, câu thứ 12 như sau: Hai câu: “Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh, nhạy bén với cái mới. Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu.” liên kết với nhau bằng phép liên kết nào? A.Phép nối ; B.Phép lặp từ ngữ ; C.Phép đồng nghĩa ; D. Phép thế.
Phần hai, tự luận (7 điểm) gồm hai câu. Câu một (2 điểm): Viết đoạn văn trình bày hiểu biết của em về văn bản nhật dụng. Câu hai (5 điểm): Phân tích đoạn thơ sau... (trích dẫn trong bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh).
Cô giáo Phạm Thị Luý, chuyên viên văn Phòng giáo dục huyện Thuỷ Nguyên: Đề văn thể hiện tinh thần đổi mới trong kiểm tra đánh giá học sinh. Phần trắc nghiệm kiểm tra được kiến thức của học sinh trên diện rộng, tránh tình trạng học lệch, học tủ. Nhưng nội dung còn một số vấn đề cần trao đổi. Về phạm vi kiến thức của đề bài, theo công văn chỉ đạo của Bộ Giáo dục- Đào tạo, nội dung đề thi trong chương trình THCS chủ yếu là chương trình lớp 9. Chúng tôi hiểu “chủ yếu” nghĩa là có 70- 80% là chương trình lớp 9. Còn trong đề văn trên, câu 2 phần tự luận (5 điểm) ra kiểu bài lớp 9, văn bản thuộc chương trình lớp 8. Văn bản này được đưa vào làm ngữ liệu dạy về kiểu bài nghị luận ở lớp 9. Đối với môn văn, ngữ liệu nhiều nhưng đưa vào đề thi cho học sinh phân tích cần đưa văn bản chương trình lớp 9. Khía cạnh thứ 2 là theo chương trình đổi mới giáo dục phổ thông, chúng ta đang cố gắng giảm tính hàn lâm, tăng thực hành và vận dụng sáng tạo trong giảng dạy. Vậy mà đề tự luận câu 1 lại nặng về lý thuyết, đòi hỏi học sinh học thuộc lòng, học vẹt.
Cô giáo Lương Thị Thuỷ, giáo viên văn Trường THCS Đoàn Lập (Tiên Lãng): Trong quá trình chấm thi, tôi thấy có học sinh làm đúng tới 11 câu trắc nghiệm, nhưng câu 12 không đúng với đáp án của Sở Giáo dục- Đào tạo. Đối với câu 12 này, trong quá trình giảng dạy, chúng tôi dạy học sinh chọn đây là “phép thế” (phương án D). Cụm từ “Bản chất trời phú ấy” được thay cho cụm từ “ sự thông minh, nhạy bén với cái mới” để tránh lặp lại và giữ vai trò chủ ngữ trong câu. Nhưng theo đáp án của Sở, dùng “phép đồng nghĩa”(phương án C) mới đúng.
Cô giáo Nguyễn Hồng Sim, giáo viên văn Trường THCS Trương Công Định (Lê Chân): Nội dung đề thi nằm trong chương trình THCS, nhưng nên có sự định lượng cụ thể. Với đề văn này, học sinh muốn làm bài tốt phải có đầy đủ những kỹ năng từ lớp 6 đến lớp 9. Theo tôi, đề thi nên dành 70% vào kiến thức lớp 9, không nên quá tập trung vào phần kiến thức các lớp dưới. Với loại đề trắc nghiệm, chỉ có 1 đáp án đúng nhất. Vì vậy không nên ra đề vào những phần kiến thức giao nhau mà ngay cả giáo viên cũng đang còn tranh luận. Ở câu 1 phần tự luận, lệnh ra không rõ ràng. Khi yêu cầu học sinh viết một đoạn văn cần nêu rõ yêu cầu số lượng, cụ thể bao nhiêu câu.
Cô giáo Cao Tố Nga, giáo viên văn Trường THPT Ngô Quyền: Là giáo viên chấm thi, chúng tôi thấy đáp án đề thi môn văn sơ sài. Điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả khách quan. Bởi trong số 300 giáo viên chấm thi, có tới 90% là giáo viên THPT, hầu như chưa tiếp xúc với chương trình, rất khó chấm chính xác, khách quan với một đáp án chỉ có vài gạch đầu dòng. Kinh nghiệm cho thấy, đáp án đề thi tuyển sinh đại học, người ta chẻ chi tiết đến 0,25 điểm cho tất cả các câu hỏi. Mặt khác đáp án đưa ra chưa hoàn toàn chính xác. Đơn cử : câu 12 phần trắc nghiệm, đáp án đưa ra là C, dựa theo gợi ý của sách “Bài tập ngữ văn” tập 2. Theo tôi, gợi ý làm bài của sách bài tập chỉ mang tính tham khảo, không phải bao giờ cũng là phương án tối ưu. Đôi khi, sơ xuất ở một khâu nào đó (viết sách, thẩm định...) dẫn đến sách cũng có những chỗ sai. Chẳng thế mà Bộ Giáo dục- Đào tạo luôn phải “chỉnh sửa” sách giáo khoa (SGK).
Theo định nghĩa về “phép đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng” thì cụm từ “bản chất trời phú ấy” chỉ có thể thay thế cho cụm từ “sự thông minh, nhạy bén” chứ không thể đồng nghĩa. Nếu tìm từ đồng nghĩa với “thông minh” thường người ta nghĩ ngay đến các từ “sáng dạ”, “nhanh trí”..., còn đồng nghĩa với “nhạy bén” là “nhanh nhạy”... , chứ không thể là “bản chất trời cho ấy”. SGK văn 9, tập 2, trang 43 định nghĩa: “Sử dụng câu đứng sau các từ đồng nghĩa, trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước là phép đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng. Sử dụng câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế từ ngữ đã có ở câu trước là phép thế.” Xin nói thêm là trong các phép liên kết câu thì phép đồng nghĩa ít được sử dụng hơn cả và cũng khó nhận biết, tìm ví dụ hơn cả so với 3 phép liên kết kia (không có nghĩa là không tìm được). Trước đây, SGK cũ quan niệm: đồng nghĩa là một kiểu của phép thế (thế đại từ, thế đồng nghĩa...).
Chúng tôi cho rằng người ra đề nên tránh những điểm, dễ gây tranh luận bất đồng vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả bài thi của học sinh. Rất nhiều học sinh chọn đáp án D chứ không phải C như đáp án của Sở GD-
ĐT.
Cô giáo Nguyễn Thị Kim Lan, chuyên viên văn phòng THPT Sở Giáo dục- Đào tạo: Cái khó đồng thời cũng là yêu cầu mà người ra đề cần giải quyết là phải kết hợp nhiều tiêu chí: khoa học, sư phạm và cập nhật. Văn khác các môn học khác là dựa trên ngôn ngữ phổ thông phản ánh cuộc sống, đời sống tâm tư, tình cảm con người. Đề thi môn văn nhận được sự quan tâm của mọi người với những ý kiến đồng tình, ủng hộ và cả xét nét...là điều bình thường. Nhưng đề văn tuyển sinh vào lớp 10 năm nay có yếu tố không bình thường ở chỗ, tuy đề văn năm nay có sự đổi mới, tích hợp các kiến thức khác nhau, các phân môn khác nhau, nhưng chưa thoả mãn tính sư phạm và thực tế. Bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh được lấy ví dụ trong giờ học lý thuyết tập làm văn lớp 9. Vì thế, ví dụ này ít thu hút sự chú ý của thầy và trò. Theo tâm lý thông thường của giáo viên và học sinh, bài thơ này không nằm trong mục lục và phân phối chương trình SGK lớp 9, nên học sinh không được ôn tập kỹ. Trong thời gian ôn tập (khoảng một tháng trước khi thi), rất ít giáo viên ôn tập cho học sinh những nội dung thuộc chương trình lớp 8. Vì thế, nội dung đề thi gây sự bất ngờ cho cả thầy và trò. Theo mục lục, phân phối chương trình sách giáo khoa, bài thơ này thuộc chương trình lớp 8. Câu 1 phần tự luận, khái niệm “văn bản nhật dụng” học sinh được học từ lớp 6 và được ôn lại, tích hợp ở những lớp sau. Phần 1 trắc nghiệm, văn bản lấy cuả lớp 9, tích hợp, “quét” kiến thức của cả cấp học. Năm học vừa qua là năm đầu thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, phải chăng người ra đề nóng vội. Tôi nghĩ đổi mới là cần thiết, nhưng phải căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương và đồng quan điểm chỉ đạo chuyên môn chung. Việc thay đổi trong kiểm tra, đánh giá cần tiến hành từng bước, có sự chuẩn bị cho thí sinh trước kỳ thi ít nhất là 6 tháng để thí sinh và xã hội có thời gian thích ứng.
Thay cho lời kết
Từ ý kiến của các cán bộ, giáo viên dạy văn, thiết nghĩ ngành Giáo dục- Đào tạo nên xem xét việc ra đề văn trên một cách khách quan, rút kinh nghiệm cho những kỳ thi sau. Đây là đề thi tuyển, đối với học sinh, chỉ hơn kém nhau một chút, đôi khi chỉ 0,25 điểm, nhưng có em đỗ vào trường theo nguyện vọng, có em phải sang trường khác, thậm chí vào trường ngoài công lập. Vì vậy, cùng với đề thi, đáp án cũng cần được chi tiết, cụ thể, chính xác, để khi giáo viên chấm bài bảo đảm tính khách quan. Trước mắt, Sở Giáo dục- Đào tạo nên căn cứ vào tình hình thực tế có sự điều chỉnh đáp án chấm thi phù hợp, bảo đảm sự công bằng cho học sinh./.
Nhóm PV Xã hội