Về mất mát và những điều tương tự
Có lần đưa thằng con đi nhà ngoại tôi chơi, lúc về nó hay khóc thảng thốt trong giấc ngủ. Má nói chắc nhỏ em mày cưng quá nên nựng nịu, bèn bảo bâng quơ với thinh không, “dì Hai thương cháu thì đừng có làm cháu giật mình tội nghiệp…”. Thằng nhỏ sau đó tự dưng ngủ rất ngon.
Có lần đưa thằng con đi nhà ngoại tôi chơi, lúc về nó hay khóc thảng thốt trong giấc ngủ. Má nói chắc nhỏ em mày cưng quá nên nựng nịu, bèn bảo bâng quơ với thinh không, “dì Hai thương cháu thì đừng có làm cháu giật mình tội nghiệp…”. Thằng nhỏ sau đó tự dưng ngủ rất ngon.
Em tôi qua đời hồi bốn tuổi, vì căn bệnh sốt xuất huyết, vì chúng tôi thiếu hiểu biết và vì ông y sĩ vườn đã lụt nhách nghề, huênh hoang nói cái thứ ban đỏ này nhằm nhò gì. Một bữa ông ta trả em tôi lại, bảo số cháu nó không may. Cho tới bây giờ tôi vẫn nhớ thân thể ấm nóng của em vắt ngang trên đôi tay dì khi bước từ dưới xuồng lên bến. Tôi nhớ hai cái đồng tiền lún sâu trên gương mặt tròn bầu. Người em lẳn chắc như củ sen, như hột mít.
Năm đó tôi chỉ mười hai tuổi. Ngây ngô khờ ịt nên học bài học về cái chết khá ngỡ ngàng. Không có gì giống vậy, tôi từng làm mất tiền, cây kẹp tóc, cái vòng đeo tay bằng đá mã não… nhưng đều tìm thấy hoặc mua lại được. Kể cả con bạn mà tôi thương nhất chuyển nhà đi thỉnh thoảng lại quay về (để hay rằng hai đứa đã dần quên nhau, đây cũng là một kiểu chết chăng?). Nhưng em tôi thì im lìm vĩnh viễn.
Chết có nghĩa là không có cơ hội thứ hai.
Bữa em đi cả nhà cố nhịn khóc, vì ngoại tôi đã già, tim lại hay đau sợ không chịu được xúc động. Nhưng ngoại không nhịn được, bà khóc bời bời, rờ rẫm nắn bóp mãi bên đứa cháu dần một lạnh. Hàng xóm dặn đừng rớt nước mắt lên người con nhỏ, nó sẽ không siêu thoát được. Họ không nói sớm, tôi đã để nước mắt mũi tèm lem trên tay nó, cổ nó.
Sau này tôi cứ nghĩ hay chính nước mắt tôi đã níu em lại. Mỗi lần con bướm xám bay vô nhà, ngoại nói em bây về. Và dù ba tôi có lấy những kiến thức khoa học để phản bác lại (thí dụ như vườn nhà mình rộng, có nhiều cỏ dại nhiều cây lớn tàng sẽ có nhiều bươm bướm lạ; thí dụ như tuyệt đối không có cái gọi là ma…) thì ngoại vẫn tin rằng đứa cháu vẫn đang quấn quýt bên mình. Bằng cách hóa thân vào bướm bay chấp chới trước mặt ngoại, vào trái khế rụng trên nóc nhà giữa khuya, vào tiếng gió lùa qua bụi tre gai… Tôi nghe ngoại riết đâm ra không ghê sợ ma quỷ nữa. Ma là nhỏ em bốn tuổi của tôi, má lúm mặt bầu nói ngọng, da trắng như bông bưởi, sợ chi mà sợ?
Rồi dì tôi lại sinh em bé, ngày nào cũng có bướm bay vô nhà. Ngoại nói chắc con nhỏ sợ má nó quên. Tình cờ mỗi lần bướm tới chơi là tụi nhỏ lại sổ mũi ấm đầu. Ngoại nói với gió không màu, “Bây thương em kiểu này làm ngoại với má bây ứ hự…”.
Ngoại đưa em vô chùa. Đưa tiễn lần thứ hai, cũng khóc. Chừng chục bữa sau lại thấy bướm, ngoại hỏi con có ngoan không có nghe lời ni cô không? Như thể ngoại chưa từng mất đứa cháu vắn số, như thể nó đang tồn tại dưới một hình thức khác.
Với tôi, em cũng chưa từng mất. Em là những đứa trẻ mà tôi đã từng gặp, từng ôm ấp. Trong veo. Ấm áp. Líu lo đả đớt nhảy nhót suốt ngày. Bằng cách này, tôi nhớ em bền dai lắm. Nhớ em khi tụi nhỏ con tôi ho hen ấm đầu, khi buộc phải bứt chúng khỏi vòng tay, tầm mắt… Nhớ em vào một bữa đi ngang qua vài đứa trẻ gầy gò co ro vì rét, những đứa trẻ mũi chảy thò lò, hay một em bé đang sốt đờ đẫn ngồi tựa vào thớt thịt đầy ruồi nhặng trong chợ…
Và tôi nắm lấy tay những đứa bé đó, chặt như nắm tay của em gái mình…
Tản văn của Nguyễn Ngọc Tư