Về Đền Xà, nơi vang lên 'Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên'

Về Đền Xà, nơi vang lên 'Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên'
Tượng Thái úy Lý Thường Kiệt tại Đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt sát sông Cầu. (Ảnh trong bài: PV)

Trên chuyến xe từ Hà Nội tìm về vùng Kinh Bắc trong những ngày cuối hạ, sang thu, khi không gian phố xá dần nhường chỗ cho những xóm làng, bãi bồi và triền đê chạy dài bên sông, thì cũng là lúc Đền Xà (nay thuộc xã Tam Giang, Bắc Ninh) hiện ra với khoảng sân cũ, cây xanh và không gian thanh tĩnh đặc trưng của đền miếu làng Việt…

“Sông núi nước Nam vua Nam ở”

Thuở nhỏ ngồi trên ghế nhà trường, hầu hết học sinh Việt Nam đều được học về bài thơ “Nam quốc sơn hà”. “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. (Sông núi nước Nam vua Nam ở/Rành rành định rõ ở sách trời/Cớ sao lũ giặc đến xâm phạm/Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời - Bản dịch theo nguồn từ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam... thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVII, NXB Văn học, 1976).

Biết đến “Nam quốc sơn hà”, nhưng chưa nhiều người có dịp đến với Đền Xà thuộc xã Tam Giang, tỉnh Bắc Ninh, nơi được coi là phát tích của bài thơ.

Đền Xà thờ Đức Thánh Tam Giang là Trương Hống và Trương Hát, hai nhân vật được thần tích và truyền thuyết dân gian lưu truyền là những danh tướng từng phò Triệu Quang Phục chống quân Lương ở thế kỷ VI. Trong tâm thức cư dân dọc sông Cầu, hai ông là những vị phúc thần bảo hộ xóm làng, sông nước. Hàng trăm làng, xã dọc vùng sông Cầu hiện nay vẫn còn duy trì tục thờ Thánh Tam Giang, cho thấy sức sống lâu bền của một tín ngưỡng đã ăn sâu vào văn hóa cộng đồng.

Đền Xà được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1988. Ngôi đền từng bị tàn phá trong chiến tranh, được phục dựng vào năm 1993. Hiện đền còn lưu giữ tượng thờ, thần tích và 14 đạo sắc phong, trong đó sắc sớm nhất có niên đại năm 1670.

Nhưng điều khiến Đền Xà trở nên đặc biệt là câu chuyện về bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bốn câu thơ ngắn nhưng khẳng định một tinh thần tự chủ, một tinh thần dân tộc trường tồn với non sông. Và tôi - người viết bài này cũng cảm thấy tim mình rung lên khi bước chân vào Đền Xà và đọc từng từ trong bài thơ “thần” được khắc trên bia đá.

Cổng Đền Xà.
Cổng Đền Xà.

Không xúc động sao được khi chính tại nơi đây, giữa đêm bên dòng Như Nguyệt năm 1077, quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đã xây dựng phòng tuyến dọc bờ nam sông Như Nguyệt chống Tống. Khi ấy, Như Nguyệt không phải dòng sông thanh bình giữa vùng quê Kinh Bắc mà là một phòng tuyến sống còn che chắn con đường tiến về kinh thành Thăng Long. Đầu năm 1077, đại quân Tống tiến xuống, con sông trở thành chiến tuyến. Bên kia là đạo quân xâm lược đang tìm cách vượt sông, bên này là quân dân Đại Việt quyết giữ đất nước.

Dân gian lưu truyền rằng, trước trận đánh, Lý Thường Kiệt đã cầu Đức Thánh Tam Giang phù trợ. Trong đêm, tiếng ngâm bài thơ “Nam quốc sơn hà” vang lên từ ngôi đền thờ hai vị thần, khiến quân sĩ thêm phấn chấn (cũng có một số tài liệu lịch sử và nghiên cứu ghi nhận tác phẩm có thể gắn liền với mốc năm 981 chống quân Tống dưới thời nhà Tiền Lê - PV). Từ câu chuyện ấy, bài thơ còn được gọi là “thơ thần”.

Tại Đền Xà, trò chuyện với phóng viên, ông Đề - người trông coi Đền Xà cho biết: “Lịch sử ghi đó là bài thơ thần. Lý Thường Kiệt không phải là thần mà là một vị tướng cầm quân. Khi Lý Thường Kiệt vào đền làm lễ Đức Thánh Tam Giang (là người vẫn được dân gian ca tụng “sinh vi tướng, tử vi thần” có nghĩa là sinh ra đã là tướng, khi chết đi thì là thần), thì trong đền vang lên bài thơ này và Lý Thường Kiệt đã truyền lại cho quân sĩ đọc”.

Cho dù liên quan đến nguồn gốc bài thơ vẫn còn nhiều tranh luận, nhưng nếu nhìn nhận ở góc độ văn hóa, theo huyền tích, người xưa đã để tiếng thơ thần cất lên từ một ngôi đền. Nghĩa là trong ý thức của cộng đồng, ý chí của con người, hồn thiêng sông núi và chính nghĩa giữ nước đã hòa làm một. Khi quân sĩ bảo vệ non sông, phía sau họ không chỉ có triều đình hay tướng lĩnh, mà còn có tổ tiên, thần linh và cả một cộng đồng đang gửi gắm niềm tin vào chiến thắng. Chính điều đó đã biến lịch sử thành văn hóa và quay lại, văn hóa giúp lịch sử lưu giữ ký ức của núi sông, cộng đồng.

Độc lập - quyền thiêng liêng của một dân tộc

Trong lịch sử Việt Nam, các nhà sử học thường đánh giá 3 tác phẩm gồm: bài thơ “Nam quốc sơn hà” (thế kỷ XI, năm 1077), “Bình Ngô đại cáo” (thế kỷ XV, năm 1428) và bản “Tuyên ngôn Độc lập” (thế kỷ XX, năm 1945) là ba bản Tuyên ngôn Độc lập tiêu biểu đánh dấu những mốc son chói lọi khẳng định chủ quyền và ý chí tự chủ của dân tộc.

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, với con người hôm nay, đó có thể là một câu nói hiển nhiên. Nhưng đặt vào thế kỷ XI, hai chữ “Nam đế” mang một ý nghĩa đặc biệt. “Nam quốc sơn hà” đã đi thẳng vào một chân lý mà người Đại Việt tin tưởng: đất nước này có cương vực, có chủ nhân; kẻ nào xâm phạm nhất định sẽ thất bại. Và theo nhiều nhà sử học đó cũng là lý do “Nam quốc sơn hà” qua nhiều thế hệ được nhìn nhận như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

Tấm bia khắc bài thơ “Nam quốc sơn hà” tại Đền Xà.
Tấm bia khắc bài thơ “Nam quốc sơn hà” tại Đền Xà.

Với tôi, người viết bài này, khi đứng trước bia thơ ở Đền Xà, tôi như nhìn thấy khoảng cách gần 900 năm lịch sử giữa “Nam quốc sơn hà” năm 1077 - “Bình Ngô đại cáo” năm 1428 - và Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Đất nước đã đi qua nhà Lý, nhà Trần, những cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông, hai mươi năm kháng chiến chống Minh, thời Lê sơ, Tây Sơn rồi những năm dài thuộc địa. Dù 3 bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc thể hiện với hình thức khác nhau, ra đời trong bối cảnh khác nhau, nhưng có một điều chưa bao giờ thay đổi: người Việt Nam luôn coi độc lập là quyền thiêng liêng của một dân tộc.

Với “Nam quốc sơn hà”, nước Nam có vua Nam, cương vực đã phân định, kẻ xâm lăng tất bại. “Bình Ngô đại cáo” xác lập một quốc gia Đại Việt với văn hiến, cương vực, phong tục, lịch sử và hào kiệt riêng. Với “Tuyên ngôn Độc lập”, tư tưởng độc lập dân tộc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trong một tầm vóc mới của thời đại: quyền của một dân tộc được tự do, độc lập và quyền của Nhân dân được làm chủ vận mệnh của mình.

Cụm di tích phòng tuyến sông Như Nguyệt tại Tam Giang bao gồm nhiều điểm như: Đền Xà, Ngã ba Xà, Bến sông Như Nguyệt, Chùa Bồ Vàng… mang dấu tích liên quan đến chiến tuyến năm xưa. Tỉnh Bắc Ninh cũng đã đầu tư xây dựng Đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt sát sông Cầu, góp phần hình thành một không gian tưởng niệm, giáo dục lịch sử trên chính vùng đất từng diễn ra cuộc kháng chiến năm 1077. Những địa danh ấy được kết nối thành những tuyến du khảo lịch sử, để người dân, đặc biệt là người trẻ có thêm cơ hội tiếp cận với lịch sử.

Ông Đề - người trông coi Đền Xà cho phóng viên biết, hàng năm ngôi đền tiếp rất nhiều khách đến tham quan, nhất là các đoàn học sinh từ các trường: “Thấy các cháu học sinh đứng nghe chăm chú giáo viên, hướng dẫn viên giảng về bài thơ thần, về ý chí tự cường của dân tộc, tôi thấy tự hào”.

Về tham quan Đền Xà, khách tham quan có thể đứng bên bậc thềm ngôi đền để ngắm nhìn dòng sông vẫn chảy tự ngàn năm và hiểu tại sao cha ông chọn dòng sông này làm phòng tuyến; nhìn bia thơ để cảm nhận sức mạnh của một lời khẳng định chủ quyền, rồi từ đó nối câu chuyện với Bạch Đằng, Chi Lăng, Đông Quan, Đống Đa, Tân Trào và Ba Đình.

Và niềm tự hào chắc chắn sẽ sâu sắc hơn khi nhận ra rằng hai chữ “Độc Lập” không chỉ nằm trên những trang sách mà còn nằm trong tinh thần Việt được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, như chính dòng sông trước Đền Xà chưa bao giờ ngừng chảy trong mạch nguồn dân tộc.

Hồng Minh