Vấn nạn sim nhiều, thuê bao ít- Thuê bao trả sau thiệt thòi
Theo công bố của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, đến nay, cả nước có hơn 80 triệu thuê bao điện thoại di động. Còn theo Bộ Kế hoạch-Đầu tư, con số đó là hơn 75,5 triệu thuê bao, đạt mật độ 82 máy điện thoại/100 người dân (ở Hải Phòng, các mạng di động cung cấp số sim vượt số dân thành phố, mật độ hơn 1 máy điện thoại/ người). Kèm theo đó là cuộc cạnh tranh vị trí số 1 trên thị trường thông tin di động về số lượng thuê bao.
Theo cơ quan quản lý Nhà nước, thuê bao thực được xác định là những thuê bao đang hoạt động một chiều hoặc 2 chiều. Kết quả đo kiểm cho thấy, hiện Viettel là mạng có số lượng thuê bao lớn nhất, tiếp đến là MobiFone, Vinaphone. Viettel có khoảng hơn 26 triệu thuê bao, MobiFone cũng có tương tự, còn Vinaphone thấp hơn với khoảng hơn 20 triệu thuê bao, S-Fone có 6 triệu thuê bao. Tuy đạt mật độ tương đương số dân, nhưng trên thực tế, các mạng di động lớn cho rằng số thuê bao phát sinh cước chỉ khoảng hơn 40 triệu thuê bao. Bởi cách tính thuê bao như hiện nay không chuẩn do tình trạng đại lý của các mạng di động kích hoạt hàng loạt sim rồi tung ra thị trường tiêu thụ, chứ không phải khách hàng đăng ký kê khai sử dụng. Rồi theo cách tính thuê bao còn hoạt động một chiều, không phát sinh cước, tạo ra tình trạng sim vẫn đang nằm trong kho, hoặc một người sử dụng nhiều sim vẫn được tính là thuê bao đang hoạt động. Để cạnh tranh, các mạng di động liên tục đưa ra các gói cước kéo dài thời hạn sử dụng tới cả năm, nên sim sử dụng sau mỗi đợt khuyến mại bị vứt đi, nhưng vẫn tính là thuê bao đang hoạt động, tạo nên vấn nạn sim nhiều, nhưng thuê bao thực lại ít.
Một nghịch lý mới nảy sinh, là khách hàng sử dụng thuê bao trả sau bị thiệt thòi, không được hưởng lợi nhiều qua các đợt khuyến mại và đến thời điểm này, các nhà cung cấp dịch vụ vì lợi ích cục bộ cũng không quan tâm đến thuê bao trả sau. Lý do đơn giản là chi phí của doanh nghiệp để duy trì một thuê bao trả sau cao hơn so với chi phí để duy trì thuê bao trả trước. Với việc thu cước, doanh nghiệp phải đầu tư một hệ thống quản lý nhân viên thu cước thuê bao hằng tháng, trong khi thuê bao trả trước trả tiền trực tiếp trước khi sử dụng. Hơn nữa, tỷ lệ nợ đọng của thuê bao trả sau cũng tương đối lớn, trở thành nợ khó đòi, gây khó khăn cho công tác quản lý. Tại Viễn thông Hải Phòng, số nợ đọng dịch vụ viễn thông lên tới tiền tỷ và có một thực tế, nhiều chủ thuê bao sau khi sử dụng một thời gian, chuyển sang mạng khác, nhưng vẫn chưa có chế tài buộc phải thanh toán nợ đọng tiền cước đã sử dụng.
Khắc phục vấn nạn sim nhiều, nhưng thuê bao ít cần đổi mới cách tính: thuê bao đang sử dụng có phát sinh cước trong thời gian nhất định mới phản ánh đúng thực tế; loại bỏ thuê bao đang mở 2 chiều, nhưng gần như không hoạt động khá phổ biến hiện nay, tiết kiệm được tài nguyên số. Đồng thời, sẽ khắc phục được tình trạng các mạng di động đua nhau chạy theo số lượng, liên tục tung ra các đợt khuyến mại thuê bao trả trước để tập trung vào nâng cao chất lượng thông tin cùng các dịch vụ giá trị gia tăng, tăng doanh thu thực tế. Chỉ tính riêng ở Viễn thông Hải Phòng, việc thực hiện kế hoạch phát triển thuê bao mới hoàn thành trước thời hạn hơn 30 ngày, nhưng doanh thu lại không tăng, do giá cước dịch vụ viễn thông giảm, cộng với số lượng thuê bao ảo, một thuê bao sử dụng nhiều sim. Việc quản lý chặt số sim thuê bao trả trước, giúp kê khai thông tin cá nhân tốt hơn, các mạng di động coi trọng công tác chăm sóc khách hàng hiệu quả hơn và khi đó, mạng nào có chất lượng dịch vụ tốt nhất, sẽ giữ được vị trí chi phối thị trường.
Đặng Hùng