Văn Miếu giữa trời Nam
Tuấn Hải
Vào thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) công tác, chúng tôi được đồng nghiệp hẹn đưa đi thăm Văn Miếu! Vẫn biết, ngoại Văn miếu Quốc Tử Giám- “Trường đại học” đầu tiên của nước ta- ở Thủ đô Hà Nội, đời sưa đã xây dựng nhiều Văn miếu khác ở cố đô Huế, Vĩnh Long, Gia Định... Nhưng mới hay qua sử sách vậy thôi chứ chưa có dịp đến thăm, nên trong đoàn chúng tôi, ai cũng háo hức được chiêm ngưỡng một Khuê Văn Các thứ hai tỏa sáng giữa trời
Men theo những miệt vườn trù phú, ấm no, xe đưa chúng tôi đến một vùng đất rộng thênh thang, ngập tràn màu xanh của những vạt rừng đồng bằng và những hồ nước trong veo. Giữa không gian khoáng đạt ấy, Văn miến của trời
ở Đông Nai, người dân gọi ngôi miếu này là Văn miếu Trần Biên. Tuy ra đời muộn hơn so với Văn miếu Quốc Tử Giám, song Văn miếu Trấn Biên cũng có bề dày lịch sử đáng kể. Theo “Gia định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức biên soạn đầu thế kỷ 19, Văn miếu Trấn Biên được xây dựng tại thôn Tân Lại, huyện Phước Chánh (nay thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa) vào đời vua Hiền Tông năm ất Vị thứ 25 (tức năm 1715). Văn miếu Trần Biên đã qua hai lần trùng tu vào năm Giáp Dần (1794) và năm Tự Đức thứ 5 (1852). Sử sách cũng mô tả: Văn miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp- “nơi đây núi sông thanh tú, cỏ cây tốt tươi... Bên trong, rường cột chạm trố tinh xảo... Trong thành trăm hoa tươi tốt, có những cây tòng, cam, quýt, bưởi, hoa sứ, mít, xoài, chuối và quả hồng xiêm đầy rẫy, sum quê, quả sai lại lớn...”.
Thực ra, do thời gian và những biến cố lịch sử, Văn miếu Trấn Biên từng bị tàn phá không còn dấu vết. “Biên Hòa sử lược” của nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu ghi: năm 1861, khi đánh chiếm Biên Hòa, quân Pháp đã đốt phá Văn miếu Trấn Biên. Nhận thức đây là công trình có giá trị lịch sử, giáo dục... lớn lao, từ năm 1998, tinh Đồng Nai tiến hành phục dựng di tích này và phục dựng rất thành công.
Được xây dựng trong bối cảnh vùng đất Biên Hòa- Đồng Nai đã khá ổn định về chính trị – kinh tế- xã hội (có Nông đại đại phố, có dinh trấn...), văn miếu Trấn Biên là sự nối tiếp mạch nguồn của Văn miếu Quốc Tử Giám ở thành Thăng Long xưa: tôn thờ nguyên khí quốc gia và tôn vinh truyền thống trọng học, trọng nhân tài của tổ tiên ta qua nhiều thế kỷ xây dựng quốc tia độc lập, tự chủ. Đồng thời, chứa đựng hài hòa yếu tố địa phương: xác lập vị thế của vùng đất địa linh nhân kiệt; lưu giữ, tôn vinh bề dầy truyền thống văn hiến của Đồng Nai. Theo đó, trong Văn miếu Trấn Biên, cùng với ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh- Danh nhân văn hóa thế giới; vừa có gian thờ các vị danh nhân văn hóa dân tộc danh nhân văn hóa phương Nam: Chu Văn An, Nguyễn Trái, Nguyễn Bình Khiêm, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn; vừa có gian thờ các vị Võ Trường Toản, Đặng Đức Thuật, Trịnh Hoài Đức, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu.
Bên cạnh những nét tương đồng về yếu tố lịch sử nói trên, Văn miếu Trấn Biên còn nhiều điểm chung với Văn miếu Quốc Tử Giám, đặc biệt về kiến trúc. Từ trong ra ngoài, đâu đâu cũng bắt gặp những nét giống nhau thú vị ấy. Trươc hết, đó là cổng Tam quan trên đề 3 chữ “Văn Miếu Môn” theo kiểu chữ Hán cổ xưa. Tiếp đó, nổi bật và dễ nhận ra nhất là tòa Khuê Văn Các- nét đặc trưng của Văn miếu Quốc Tử Giám, được xem như biểu tượng của Thủ đô Hà Nội. Trừ màu mái ngói đỏ truyền thống ở ngoài Bắc được thay bằng màu xanh mát mắt, tòa Khuê Văn Các thứ hai cũng vút cong những lầu vuông tám mái, cửa sổ tròn hình mặt trời tỏa sáng, thể hiện ý tưởng các vì tinh tú của bầu trời rọi xuống trái đất. Bước chân qua Khuê Văn Các, sẽ gặp một hồ nước hình vuông nở đầy hoa súng trắng, cũng mang tên Thiên QuangTỉnh – giếng sôi ánh mặt trời- như giếng nước ở Văn miếu Quốc Tử Giám. Rồi Nhà bia Khổng Tử, nhà Đại Bái, Đại Thành Môn...- ngoài Bắc có sao, trong nam có vậy!...
Không chỉ mang lại cho Văn Miếu Trấn Biên vẻ đẹp thân thuộc với người dân Việt Nam, sự trùng lặp cả về hình thức lẫn nội dung giữa hai Văn miếu ở hai miền đất nước còn ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa khác: thể hiện sự đoàn kết và một lòng giữa “đàng trong” với “đàng ngoài”- hai vùng đất trải qua thăng trầm của lịch sử dân tộc vốn nhiều lần bị kẻ thù chia cắt. Chẳng thế mà trong Văn miếu Trần Biên giờ đây còn có bia tiến sĩ, Chiêng đồng và trống hội Thăng Long- những kỷ vật đến từ Văn miếu Quốc Tử Giám. hay 18kg đất và 18kg nước của đất Tổ Hùng Vương- biểu tượng cội nguồn- được cất công mang về đây và đặt trang trọng trong nhà Đại Bái.
Chỉ lưu lại nơi đây trong ít phút, nhưng chúng tôi thực sự cảm nhận được khí thiêng núi sông, niềm tự tôn dân tộc như đã ngấm vào cảnh vật, có cây. Thế mới thấm thía: cha ông ta khi xưa, khi đã đặt một viên gạch xuống đất, là xây nền đổ móng cho cá ngàn đời. Hiểu vì sao người Đồng Nai gây dựng lại ngôi miếu thiêng bằng rất nhiều tâm huyết và công sức.
Rời Văn miếu Trấn Biên, chúng tôi cứ nhớ mái mấy câu phú rất hay viết về công trình này của Anh hùng lao động- Giáo sư Vũ Khiêu, được tạc trên một tấm văn bia lớn đặt ở mặt tiền của miếu:
“Xây cao Văn Miếu, tiếp thu thành tựu Bắc
Mở rộng học đường, khai thác tinh hoa kim cổ...
Tinh thần Đại Việt tỏa sáng nơi đây.
Hào khí Đồng Nai dâng cao từ đó”.