Từ Nghị quyết số 20-NQ/TW đến nền tảng pháp luật vững chắc cho quốc gia biển mạnh - Bài cuối:

Văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh của quốc gia biển

Văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh của quốc gia biển
Chùa Trúc Lâm đảo Trần là điểm tựa tinh thần, giúp quân và dân yên tâm công tác, bám biển, bám đảo. (Ảnh: PLVN/Công Hoan)

Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đưa ra một định hướng có ý nghĩa đặc biệt: “Phát triển toàn diện văn hóa biển Việt Nam trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và “sức mạnh mềm” của quốc gia biển”. Nếu nhìn từ lĩnh vực văn hóa, tinh thần ấy đặt ra một yêu cầu tương tự: phải chuyển từ cách tiếp cận bảo tồn theo từng di tích, lễ hội, nghề truyền thống riêng lẻ sang quản trị toàn bộ không gian văn hóa biển; từ bảo vệ “sản phẩm” của văn hóa sang bảo vệ cả điều kiện để văn hóa được tiếp tục sáng tạo, thực hành và trao truyền.

Đó cũng là cách đưa tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam vào không gian biển: Văn hóa không đứng bên ngoài phát triển, mà phải thấm vào quá trình hoạch định chính sách, trở thành nguồn lực nội sinh và “hệ điều tiết” cho phát triển bền vững.

Kiến tạo “không gian văn hóa biển” - Giữ di sản và môi trường tạo sinh di sản

Lâu nay, khi nói đến bảo tồn di sản văn hóa biển, chúng ta thường dễ hình dung đến một ngôi đình thờ cá Ông, một lễ cầu ngư, một làng nghề nước mắm, một lễ hội đua thuyền, một di chỉ khảo cổ hay một chiếc tàu cổ dưới đáy biển. Nhưng nếu chỉ dừng ở từng điểm riêng lẻ sẽ khó nhìn thấy toàn bộ cấu trúc văn hóa đã tạo nên chúng. Đơn cử, một lễ cầu ngư, lễ hội không chỉ là nghi lễ diễn ra trong vài ngày. Phía sau nó là nghề biển, đội ngũ ngư dân, đình làng, lăng Ông, bến thuyền, tri thức về mùa cá, tín ngưỡng, những quy ước của làng và một không gian tự nhiên mà cư dân đã dựa vào để sinh sống qua nhiều thế hệ.

Một làng chài cũng không chỉ là dãy nhà nhìn ra biển. “Hồn” của làng nằm trong bến cá lúc rạng sáng, những chiếc thuyền được kéo lên bờ, nghề đan lưới, đóng thuyền, chế biến hải sản, chợ cá, tín ngưỡng, lễ hội và cách cư dân dựa vào nhau khi đối mặt với sóng gió… Hiện nay, nhiều làng chài bình yên, đậm vị mặn mòi của biển khơi đã trở thành những địa chỉ du lịch thu hút khách như Làng Lò, một làng chài có lịch sử hơn 400 năm ở khu vực Phú Yên trước đây, nay thuộc phường Hòa Hiệp, tỉnh Đắk Lắk; làng Mân Thái tọa lạc ở bán đảo Sơn Trà, TP Đà Nẵng, Rạch Vẹm (Phú Quốc, An Giang) từ một làng chài nhỏ đã trở thành điểm đến thu hút du khách…

Nhưng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch biển Việt Nam, “bài toán” gìn giữ bản sắc văn hóa tại các làng chài ngày càng trở nên cấp thiết. Chia sẻ với phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam, ông Phạm Hải Quỳnh, Viện trưởng Viện Phát triển Du lịch châu Á (ATI) nhận định, không thể phủ nhận du lịch đã đem lại “làn gió mới” cho các làng chài Việt Nam. Nhưng ở chiều ngược lại, áp lực phát triển nóng cũng đang đặt các giá trị truyền thống vào thế báo động. Tại không ít nơi, quy hoạch tự phát và làn sóng bê tông hóa đã đẩy bến thuyền, chợ cá lùi xa bờ biển. Nhiều ngư dân bỏ hẳn nghề biển để chuyển sang chèo kéo khách, mở quán ăn thương mại. Khi những con thuyền gỗ thong dong ra khơi bị thay thế bởi mô-tô nước náo nhiệt, khi mùi biển mặn mòi nhường chỗ cho tiếng nhạc xô xát, làng chài nguy cơ biến thành một “sân khấu hóa du lịch” rỗng ruột - nơi du khách chỉ đến “check-in” chụp ảnh rồi đi, còn bản sắc bản địa dần biến mất.

Một ví dụ khác rất rõ về giá trị của không gian văn hóa biển là các ngôi chùa trên đảo. Tại đặc khu Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa, tiếng chuông chùa ngân vang hòa vào tiếng sóng ngày đêm. Tại các đảo Sinh Tồn Đông, Song Tử Tây, Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, Đá Tây A, Phan Vinh, Trường Sa Đông, Trường Sa… đều thấp thoáng những ngôi chùa với màu ngói đỏ nổi lên giữa đại dương xanh ngắt. Giữa biển trời Tổ quốc, chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tưởng nhớ tiền nhân, tri ân người đã hy sinh, nơi người lính tìm sự bình tâm và ngư dân gửi gắm lời cầu mong trước những chuyến biển. Văn hóa ở đây không nằm riêng trong mái chùa, mà nằm trong toàn bộ đời sống cộng đồng trên đảo, khẳng định và phát huy được “sức mạnh mềm” trong quá trình bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc.

Đó là lý do cần đặt vấn đề xây dựng “không gian văn hóa biển”. Luật Di sản văn hóa 2024 đã nêu rõ tư duy gắn di sản phi vật thể với không gian thực hành. Muốn bảo vệ di sản biển không thể chỉ bảo vệ phần “nhìn thấy”, mà cần bảo vệ cả quan hệ giữa di sản với không gian sống.

Củng cố nền tảng pháp lý để bảo tồn văn hóa biển

Bên cạnh nền tảng pháp lý như: Luật Di sản văn hóa 2024, Nghị định 215/2025/NĐ-CP…, xây dựng quốc gia biển mạnh cũng đòi hỏi sự kết nối giữa pháp luật di sản với pháp luật về quy hoạch, đất đai, xây dựng, du lịch, môi trường, thủy sản và quản lý không gian biển. Đây có thể coi là “bài toán” đầu tiên của quá trình kiến tạo thể chế văn hóa biển. Trên thực tế, giá trị văn hóa biển không tồn tại biệt lập mà gắn hữu cơ với không gian ven biển, sinh kế cộng đồng, nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái, đòi hỏi sự điều chỉnh đồng bộ của nhiều lĩnh vực pháp luật. Do đó, cần từng bước hình thành cơ chế đánh giá tác động văn hóa đối với các dự án lớn tại những không gian biển có giá trị đặc biệt, trong đó cần xem xét cả cảnh quan, sinh kế, lối tiếp cận biển của cư dân, nơi thực hành tín ngưỡng, khả năng truyền nghề, ký ức cộng đồng và nguy cơ làm thay đổi cấu trúc xã hội của không gian bản địa.

Những chiếc thuyền đánh cá ở Lý Sơn vượt sóng ra khơi. (Ảnh: PLVN/Ngọc Hương)
Những chiếc thuyền đánh cá ở Lý Sơn vượt sóng ra khơi. (Ảnh: PLVN/Ngọc Hương)

“Bài toán” thứ hai là quyền và vai trò của cộng đồng. Pháp luật hiện hành yêu cầu tôn trọng vai trò của chủ thể, bảo đảm quyền thực hành di sản; việc nghiên cứu, tư liệu hóa di sản phi vật thể phải có sự đồng thuận của chủ thể; đồng thời phải bảo vệ không gian thực hành và tính thiêng của di sản. Nhưng trong bối cảnh kinh tế biển phát triển mạnh, nhiều vấn đề liên quan đến quyền cộng đồng vẫn còn bỏ ngỏ như: Ai có quyền quyết định cách một tri thức truyền thống được đưa vào sản phẩm du lịch? Khi một công thức chế biến hải sản, mẫu hoa văn trên thuyền, hay bài hát dân gian… trở thành sản phẩm thương mại, cộng đồng tạo ra và lưu giữ nó được hưởng lợi như thế nào?... Ở góc độ nguyên tắc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, UNESCO nhấn mạnh cộng đồng phải giữ vai trò trung tâm; việc tác động tới di sản cần dựa trên đối thoại, tham vấn và sự đồng thuận có đầy đủ thông tin.

“Bài toán” thứ ba là bảo vệ tri thức văn hóa biển. Trong các cộng đồng ngư dân hiện vẫn tồn tại những hệ tri thức quý về luồng lạch, con nước, thiên văn, dự báo thời tiết, bão gió, nguồn lợi biển, kỹ thuật đóng tàu, bảo quản hải sản, cứu hộ và thích nghi với môi trường... Nhiều tri thức chỉ được truyền bằng lời nói và kinh nghiệm thực hành giữa các thế hệ. Một phần hệ tri thức ấy đang có nguy cơ mai một dưới tác động của biến đổi xã hội và tự nhiên, do đó cần được kiểm kê và số hóa khẩn trương. Nghị quyết 20 đã đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% di sản văn hóa biển được số hóa.

Từ mục tiêu số hóa này, “bài toán” thứ tư chính là xây dựng và bảo vệ cơ sở dữ liệu di sản biển. Cần lưu ý rằng, cơ sở dữ liệu di sản biển có thể chứa bản đồ khảo cổ, vị trí di vật dưới nước, tri thức nghề nghiệp của cộng đồng, ký ức nhân chứng, nghi lễ thiêng, thông tin về chủ quyền, dữ liệu lịch sử và nhiều loại nội dung có mức độ nhạy cảm khác nhau. Pháp luật hiện hành đã thiết lập những giới hạn cần thiết đối với việc khai thác cơ sở dữ liệu di sản, nhất là những thông tin có thể ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia, quyền của tổ chức, cá nhân hoặc dẫn tới nguy cơ chiếm đoạt quyền sở hữu, thương mại hóa làm mất tính nguyên bản và giá trị di sản. Trên cơ sở này, một chiến lược số hóa tốt phải bảo đảm: lưu giữ lâu dài, mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Nhà nước, cộng đồng, chủ thể di sản…

Làm gì để hài hòa bảo tồn với phát triển?

Mỗi một quốc gia biển mạnh đều cần có ký ức về biển, tri thức về biển, bản sắc biển và những cộng đồng đủ sức tiếp tục sống, sáng tạo và truyền lại văn hóa biển cho tương lai. Kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ di sản phi vật thể đã cảnh báo rõ nguy cơ “phi bối cảnh hóa” và thương mại hóa quá mức: một di sản có thể vẫn được trình diễn, vẫn đông khách nhưng đã bị tách khỏi cộng đồng và chức năng văn hóa ban đầu của nó. Vì thế, các chính sách du lịch và thương mại cần tránh làm biến dạng di sản, đồng thời bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi từ hoạt động kinh tế gắn với di sản của mình.

Công tác bảo tồn phải được đặt vào quy hoạch phát triển ngay từ đầu. Chúng ta cần kiến tạo không chỉ là hệ thống văn bản dành riêng cho “di sản biển”, mà còn là một không gian và thể chế để những giá trị ấy cùng tồn tại, kết nối, tương tác và tạo ra nguồn lực mới. Khi đó, văn hóa biển không chỉ là những gì chúng ta gìn giữ từ quá khứ, mà sẽ trở thành một phần của năng lực quản trị hiện tại, nguồn lực nội sinh của phát triển và “sức mạnh mềm” đưa Việt Nam vững vàng tiến ra biển lớn.

Xuân Hoa - Thùy Dương - Ngọc Hương