Vận chuyển Apatít trên tuyến đường sắt Lào Cai- Hải Phòng

Theo Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam, từ năm 2009, nhu cầu vận tải Apatít trên tuyến đường sắt phía Tây từ Lào Cai về Hải Phòng tăng gấp đôi hiện nay (1,9 triệu tấn/năm), các năm tiếp theo có thể tăng gần 3 lần (3 triệu tấn/năm)..., nhất là khi DAP Đình Vũ đi vào hoạt động.

Bài toán khó

 

Làm thế nào  đáp ứng yêu cầu trên mà vẫn bảo đảm năng lực vận tải đường sắt và an toàn giao thông?

 

7 tháng đầu năm nay, trên tuyến đường sắt Hải Phòng-Lào Cai, số lượng hàng hóa vận chuyển đạt hơn 1 triệu tấn, trong đó mặt hàng apatít chiếm tới hơn 500 nghìn tấn. Đó là chưa kể khối lượng hàng hóa xếp thêm từ các ga dọc đường. Yêu cầu vận tải trên tuyến đường sắt này ngày càng lớn trong khi năng lực thông qua hầu như cạn kiệt. Nhu cầu giữa vận tải  apatít, các mặt hàng khác và hành khách cũng có những vấn đề cần quan tâm. Ngành đường sắt không thể bỏ các đôi tàu khách hoặc giảm vận chuyển hàng xuất khẩu để tập trung vận chuyển apatít. Trong khi, vận tải hành khách là nhu cầu cấp thiết phục vụ nhân dân, vận chuyển apatít là yêu cầu quan trọng để duy trì nguồn phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đây là bài toán khó cho ngành đường sắt trong thời điểm hiện nay và những năm tiếp theo.

 

Tại Hải Phòng, địa điểm xếp dỡ apatít phụ thuộc hoàn toàn vào việc bố trí của cảng. Apatít cho DAP Đình Vũ lại phụ thuộc vào việc tiếp nhận của nhà máy này. Hiện tại, việc bố trí địa điểm dỡ apatít tại Cảng Hải Phòng đáp ứng khối lượng chuyên chở trên 27 xe, nhưng vẫn bị ảnh hưởng lớn khi cảng bố trí xếp dỡ các mặt hàng khác. Do đó, hằng ngày chỉ xếp dỡ apatít được một đợt, số còn lại phải dùng xe ô- tô trung chuyển trực tiếp (không dỡ qua bãi), nên khối lượng chỉ đạt khoảng 800 tấn/ ngày. Trong khi đó, tại ga Hải Phòng có đầy đủ điều kiện dỡ hàng, nhưng do cấm xe tải chạy trong thành phố nên không tổ chức dỡ hàng tại đây được !?

 

Một số cách giải

 

Chỉ có nâng cấp tuyến đường sắt này mới nâng cao năng lực vận tải đáp ứng yêu cầu vận chuyển apatít. Đây là giải pháp lâu dài bởi việc này không dễ, cần đầu tư với số vốn không nhỏ và thời gian có thể cả năm. Song trong điều kiện hiện tại, có thể giải quyết bài toán trên bằng một số biện pháp trong tầm tay của cơ quan chức năng và đơn vị liên quan.

 

Trước hết, trên cơ sở giữ nguyên biểu đồ chạy tàu như hiện nay, lựa chọn các toa có trọng tải lớn, bố trí thành phần đoàn tàu phù hợp. Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cần áp dụng chạy tàu chuyên tuyến vận chuyển apatít (trước đây đã tổ chức chạy thử một đôi tàu từ ga Xuân Giao- Lâm Thao và một đôi tàu từ Xuân Giao về Hải Phòng). Mạnh dạn bỏ toa xe trưởng tàu để tăng thêm toa hàng, gom các toa xe do Ấn Độ sản xuất trọng tải 40 tấn khai thác trên tuyến, điều chuyển các toa xe H, N sang các tuyến khác để dành toa xe lớn vận tải apatít.

 

Tiếp đó, ngành đường sắt ký kết với DAP Hải Phòng bảo đảm tiến độ dỡ hàng; đề nghị Cảng Hải Phòng ưu tiên thêm địa điểm dỡ apatít, ổn định địa điểm dỡ; đề xuất với Ban An toàn giao thông Hải Phòng  cho phép ô- tô tải ra vào ga Hải Phòng  trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 5 giờ sáng để dỡ apatít, nghiên cứu địa điểm dự phòng tại ga Vật Cách. Để bảo đảm an toàn và tránh ùn tắc giao thông tại các điểm chắn tàu trong nội đô Hải Phòng, ngành đường sắt xây dựng biểu đồ chạy tàu phù hợp, tránh giờ cao điểm ban ngày, tăng cường chạy tàu ban đêm.

 

Về lâu dài, ngành đường sắt khẩn trương triển khai dự án nối tuyến đường sắt từ cảng Chùa Vẽ tới DAP Đình Vũ. Nghiên cứu quy hoạch mạng lưới đường sắt trên địa bàn Hải Phòng, xây dựng tuyến đuờng sắt mới từ ga lập tàu Cam Lộ, Hùng Vương cắt sang đường 353 đi song song với đường cao tốc ô- tô Hà Nội- Hải Phòng, kết nối với đường sắt Đình Vũ, từ đó chạy lên cảng Hải Phòng; dỡ bỏ đoạn đường sắt ga Hải Phòng ra cổng 3 Cảng Hải Phòng. Như vậy, vừa bảo đảm thông nội đô, mà không ảnh hưởng đến vận chuyển apatít .

 

Từ ngày 18-5-2008, ngành đường sắt bổ sung 5 máy GE đủ bảo đảm sức kéo và khi cần thiết có thể ghép các đầu máy để tăng công suất. Trước đó,  trên tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội- Hải Phòng, đã bố trí loại đầu máy DFH21 công suất kéo từ 380-720 tấn/máy.

Toàn ngành đường sắt hiện có 1336 toa xe hàng H và N. Nếu thời gian quay vòng xe từ ga Xuân Giao- Lâm Thao 3 ngày và tuyến Hải Phòng, Cầu Yên, Văn Điển 5 ngày thì cần tới 700 toa xe H và N mới đáp ứng nhu cầu vận chuyển apatít từ Lào Cai về các địa phương và Hải Phòng .

Anh Tú