Văn bia tiến sĩ và 'lời răn' kẻ làm quan
(PLVN) - Trên thế giới ở một số quốc gia cũng dựng bia đề danh những người đỗ đạt nhưng chỉ có bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) ngoài tên các vị tân khoa còn có bài ký ghi lịch sử khoa thi, triết lý về nền giáo dục, đào tạo, sử dụng nhân tài của các triều đại, đặc biệt là “lời răn”, nhắc nhở những kẻ đỗ đạt, chuẩn bị bước chân vào chốn quan trường về sứ mệnh phụng sự xã tắc.
Lưu danh muôn thuở
Kể từ nhà Lý khai khoa năm 1075 đến khoa thi cuối cùng dưới thời nhà Nguyễn năm 1919, trải qua gần 700 năm thăng trầm, thịnh suy cùng dòng chảy lịch sử của dân tộc, các triều đại phong kiến nước ta đã tổ chức được 188 đại khoa, lấy đỗ gần 3.000 tiến sĩ. Điều này cho thấy, vì đại sự quốc gia, vì tương lai dân tộc, các vương triều luôn quan tâm, chú trọng tổ chức đào tạo bồi dưỡng, tuyển chọn nhân tài để phụng sự đất nước.
Qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn, nền giáo dục Nho học ngày càng lan tỏa đến tận các làng xã. Từ chốn lều tranh, biết bao nhiêu sỹ tử của đất nước đã cần cù học tập để có ngày “cá chép vượt vũ môn”, đạt được thứ hạng cao trong các kỳ thi trung khoa (thi Hương) đến đại khoa (thi Hội, thi Đình) rồi được triều đình bổ nhậm các chức vụ trọng yếu trong kinh, ngoài trấn, đem tài năng, trí tuệ, sở học của mình ra phò vua, giúp nước.
Biết bao thế hệ hiền tài đã hết lòng chăm lo các công cuộc ích nước lợi dân. Có thể tìm thấy ở đây tên tuổi của nhiều danh nhân như: nhà sử học Ngô Sĩ Liên, tiến sĩ năm 1442 đã soạn bộ sách “Đại Việt sử ký toàn thư”; nhà bác học Lê Quý Đôn, tác giả của “Đại Việt thông sử”, “Kiến văn tiểu lục”, “Vân đài loại ngữ”…; nhà chính trị, ngoại giao lỗi lạc Ngô Thì Nhậm đỗ tiến sĩ khoa 1775, đã giúp Vua Quang Trung chiến thắng quân Thanh trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử…
Trên các văn bia đều cho thấy đường hướng khuyến khích, khẳng định vai trò trọng yếu của nhân tài, khoa cử đối với quốc gia: “Khí vận quốc gia quan hệ bởi nhân tài, nhân tài cao thấp cốt do khoa mục” (Mậu Tuất, 1478); “Trời mở nền thái bình thịnh trị muôn năm cho nước nhà, tất sinh hiền tài để giúp cho sự nghiệp ấy. Đó là vì sự hưng thịnh của trị đạo có gốc cỗi ở chỗ dùng được người hiền, có nhiều hiền tài hay không là do ở sự giáo dưỡng” (Đinh Mùi, 1487); “Mở khoa thi tiến sĩ là quy chế đã định sẵn để kén chọn kẻ sĩ, khắc đá đề tên cốt để rộng rãi khuyến khích nhân tài” (Nhâm Tuất, 1502); “Trời đất sinh nuôi muôn vật tất phải nhờ bốn mùa để thành công. Đế vương muốn giữ muôn phương tất phải nhờ quần hiền giúp trị” (Giáp Dần, 1554).
Bởi thế, việc dựng bia đề danh không chỉ là một hình thức tuyên dương, vinh danh mà còn là một sự động viên, khuyết khích học hành thi cử để tìm lấy bậc thang thăng tiến trong xã hội: “nay thánh thượng anh minh lại nhận thấy rằng việc lớn tốt đẹp tuy đã vẻ vang một thời, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ để lưu truyền lâu dài cho hậu thế. Vì thế lại cho khắc đá đề tên dựng ở cửa nhà thái học để cho kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ phấn chấn, rèn luyện danh tiết, hăng hái tiến lên giúp rập hoàng gia” (bia 1442).
“Tấm gương soi” để tự răn mình
Nhưng không dừng lại ở những ý nghĩa trên, những tân khoa sau ngày rạng rỡ “vinh quy bái tổ”, bảng vàng đề tên, bia đá lưu danh cũng hiểu rằng “trăm năm bia đá, ngàn năm bia miệng”, họ hiểu rằng, một khi tấm bia đã dựng lên, nhất cử nhất động trong hành vi, đạo đức của họ từ nay sẽ là đối tượng “nhĩ mục quan chiêm” (tai mắt nhòm ngó), “quan trên trông xuống, người ta trông vào” của bàn dân thiên hạ.
Bởi thế cái gương “nhất nhật tam tỉnh ngô thân” (mỗi ngày ta tự xét mình ba lần), “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”, “tiết muộn đường trường” ắt phải luôn là lời nhắc nhở, thận trọng để khỏi hổ thẹn. Dù là ở chốn công đường xa xôi, hẻo lánh hay chỗ tư thất chốn kinh kỳ, phải làm sao cho xứng danh kẻ được hưởng ơn vua, lộc nước, xứng lòng kỳ vọng của mọi người. Bởi tiếng lành đồn một, tiếng dữ đồn trăm, để một chút ô danh là liên lụy đến danh giá tổ tiên, nhục lây môn đồ cửa Khổng, tên tuổi như vết nhơ để lại trên tấm đá “khoa mục thẹn lây, đá xanh lấm vết”.

“Kẻ sĩ may mắn được ghi tên vào tấm đá này phải nên làm cho danh đúng với thực, sửa nết giữ mình […] Những người ở chức tháp tùng hầu vua phải lo dâng tiến mưu hay; người nắm giữ kỷ cương phải lo làm cho chính sự trong sạch, có căn bản; những người cai trị địa phương phải lo làm sao rạng tỏ đức bề trên mà thấu tình người dưới; những người giữ quyền chăm dân phải lo sao cho nơi mình làm quan dân được no đủ mà gốc nước được vững bền” (bia 1463);... ngày thường thì can ngay nói thẳng, tôn vua giúp dân, khi gặp việc thì vì nước quên nhà, gặp gian nguy dám nhận mệnh cứu chúa, khiến người ta chỉ vào tên mà nói: người này trung, người kia thẳng, người này dám tiến cử người tốt, bài xích kẻ gian tà, giúp ích cho nước” (bia 1478).
“Kẻ sĩ được khắc tên vào tấm đá này, thật may mắn biết bao! Cho nên phải đem lòng trung nghĩa tự hẹn với mình, phải làm sao danh và thực hợp nhau, làm những việc hợp sở học để làm nên sự nghiệp to lớn quang minh, khiến thiên hạ đời sau phải nhón chân lên mà nhắc nhở thanh danh, mến mộ khí tiết. Ngõ hầu trên không phụ ơn triều đình dưỡng dục, dưới không phụ hoài bão thường ngày, thì tấm đá khắc ra sẽ đời đời không mục vậy” (bia 1487).
“Hãy làm mây lành sao tỏ nêu điềm tốt cho đời, làm ngọc sáng vàng ròng để làm của báu cho nước, làm giáo, làm gươm để dẹp trừ tiếm loạn, làm bậc tiên giác như cây kỷ, cây tử để vững chắc cột rường. Hoặc làm lúa, làm gạo, làm vải lụa để giúp dân nghèo, hoặc làm sâm linh kỳ truật để bồi bổ khí mạch quốc gia, khiến cho cuộc trị bình của nước nhà bước lên chốn vẻ vang tươi sáng, đặt thiên hạ vào thế yên như núi Thái Sơn, ngõ hầu trên không phụ thánh đức biểu dương, dưới không phụ với sở học ngày thường” (bia 1514).
Hoặc trái lại, chỉ là những kẻ “ngoài ngọc, trong đá”, “bề ngoài như chim phượng mà tiếng kêu như cú diều, dua nịnh như phường dựa cột, hèn nhát như lũ bó tay, thiên hạ đời sau sẽ chê cười” (bia 1511); “ngoài vuông nhưng trong tròn, trước ngay thẳng mà sau hư hỏng, cái người ta được thấy chẳng giống cái người ta được nghe, việc làm trái với sở học thì chỉ làm lụy cho khoa mục, làm tì vết cho tấm đá này” (bia 1529); “Thảng hoặc có người bề ngoài có vẻ văn chương mà bên trong đức hạnh thiếu phần tu dưỡng, khiến cho cái mà người ta đọc được trên bia không giống như dư luận mà họ nghe biết, việc làm trái với sở học, làm hủy hoại hạnh kiểm, điếm lụy danh giáo thì vết nhơ có tấm đá này” (bia 1487).
“Nếu không được như vậy thì hiền hay không hiền, trung hay tà, phải trái nên hư phân biệt rõ ràng, ngọc có vết không thể che đậy. Người đời sẽ chỉ vào tên mà bàn tán, công luận thật nghiêm buốt, há chẳng đáng sợ lắm sao?” (bia 1514); “Thảng hoặc có kẻ mượn khoa danh để làm kế ấm no, mượn đường ấy để được giới sĩ hoạn kính trọng, người đời sau tất sẽ nhìn vào họ tên mà nói: kẻ kia hạng tiểu nhân gian tà, làm xấu lây cho khoa mục” (bia 1577).
“Nếu không được như thế, tức là chỉ ngồi không, coi việc giữ tước lộc chức vị là cao, coi xảo trá giả dối là trí, chạy theo dục vọng mà không theo đạo đức, bỏ thực chất mà theo hư danh, như thế thì hình tích đã chẳng còn, mà công luận không sao cho thoát, há chẳng đáng khinh bỉ lắm thay! Đủ biết đá này dựng lên, ý khích lệ thật là sâu sắc, ý khuyên răn cũng thật rất đến chốn, đúng bổ ích cho thế đạo, há chỉ đặt dựng suông đâu” (bia 1659).
“Việc dựng tấm đá này có lợi ích rất nhiều: kẻ ác coi đó làm răn, người thiện lấy đó mà gắng. Biết rõ quá khứ, rộng nhìn tương lai. Vừa là để giúp rèn giũa danh tiết kẻ sĩ, vừa là để vững mạnh mệnh mạch nước nhà” (bia 1442); “đời sau sẽ có người chỉ vào tên mà bàn tán rằng: người nay trung chính, kẻ kia gian tà; người này thanh liêm giữ mình, người kia là hạng tham quan hư hỏng” (bia 1475)…
Từ đó cho thấy, việc bia đá đề danh đâu chỉ để xiển dương việc học, biểu dương người tài mà cũng từ đây, những kẻ đỗ đạt bước vào chặng đường mới, lời văn bia trên bia đá “vững như bàn thạch” là tấm gương soi, là lời nhắc những người mới được vinh danh kia không được phép ngủ quên trên thành công, làm quan không được phép vị kỷ chỉ nghĩ đến lợi lộc của bản thân và gia đình. Trái lại phải không ngừng rèn luyện, không ngừng “tu thân, tề gia”, lấy lợi ích của Nhân dân, của đất nước lên trên hết, trước hết mới có thể không thẹn với những dòng chữ tạc tên mình trên bia đá.
Sử đá lưu danh
Ngày 6/2/2026, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức khai mạc Trưng bày “Sử đá lưu danh” tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Đây là hoạt động thiết thực chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, mừng xuân Bính Ngọ 2026 và hướng tới kỉ niệm 950 thành lập Quốc Tử Giám - trường Quốc học đầu tiên.
Nội dung trưng bày được triển khai theo 4 chủ đề chính, khái quát diện mạo nền giáo dục khoa cử Nho học; chủ trương tuyển chọn, đãi ngộ và trọng dụng người đỗ đạt; đồng thời khắc họa chân dung một số danh nhân tiêu biểu có đóng góp quan trọng cho giáo dục và nhiều lĩnh vực của đất nước.