Tỷ giá VNĐ/USD giảm: Ngân hàng và doanh nghiệp đối mặt với khó khăn mới

Khoảng hơn hai tuần trở lại đây, tỷ giá VNĐ/USD Mỹ có xu hướng giảm, cả trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do. Điều này tác động mạnh  đến cơ cấu tín dụng của các ngân hàng khiến dư nợ tín dụng bằng USD tăng cao

Khoảng hơn hai tuần trở lại đây, tỷ giá VNĐ/USD Mỹ có xu hướng giảm, cả trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do. Điều này tác động mạnh  đến cơ cấu tín dụng của các ngân hàng khiến dư nợ tín dụng bằng USD tăng cao. Các ngân hàng và doanh nghiệp đứng trước  nguy cơ và thách thức mới

Tỷ giá VNĐ/USD giảm: Ngân hàng và doanh nghiệp đối mặt với khó khăn mới

Mất cân đối cơ cấu tín dụng

Trong 3 tháng đầu năm, trên phạm vi cả nước, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng tăng trưởng tới hơn 14% trong khi dư nợ cho vay bằng VNĐ chỉ tăng 0,57%. Trên địa bàn thành phố, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ cũng tăng khá cao, tới 31%. Hầu hết  chi nhánh ngân hàng trên địa bàn thành phố như BIDV Hải Phòng, Vietinbank Hải Phòng, Eximbank Hải Phòng đều có dư nợ cho vay ngoại tệ tăng cao so với đầu năm. Từ đầu tháng tư trở lại đây, Ngân hàng Nhà nước áp dụng một số chính sách điều hành tiền tệ linh hoạt giúp công khai lãi suất huy động và hạ lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận đồng vốn dễ dàng hơn. Mặc dù vậy, đồng USD tiếp tục giảm giá, doanh nghiệp tính toán và cho rằng vay USD vẫn lợi hơn và nhu cầu vay vốn ngoại tệ vẫn cao. Số liệu về  giao dịch ngoại tệ qua hệ thống liên ngân hàng những tuần gần đây cho thấy, nhu cầu về ngoại tệ chưa hề giảm và lãi suất vay vốn USD có xu hướng tăng lên. Trong tuần  9 đến 15-4, các giao dịch bằng USD phát sinh ở tất cả  kỳ hạn. Lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm và 2 tuần giảm với các mức giảm không đáng kể, lần lượt giảm 0,01% và 0,22%. Lãi suất các kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng lại có xu hướng tăng mạnh so với mặt bằng lãi suất bình quân tuần trước; lãi suất kỳ hạn 3 tháng tăng từ 0,91% lên 1,75% (tăng 0,84%); lãi suất 1 tháng cũng tăng gấp đôi từ 0,43% lên 0,88%. Phát sinh thêm giao dịch bằng USD ở kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng so với tuần trước. Lãi suất bình quân cao nhất là 2,59%/năm (kỳ hạn 12 tháng); kỳ hạn 6 tháng là 2,03%; lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động từ 0,38% đến 1,75%/năm. Doanh số giao dịch bằng USD tăng 261 triệu USD so với tuần trước. Mặc dù vậy, lãi suất cho vay bằng ngoại tệ vẫn thấp hơn VNĐ khá nhiều. Mặt khác, nếu tỷ giá giữa VNĐ/USD  tiếp tục giảm, doanh nghiệp vay ngoại tệ được lợi kép do lãi suất thấp và do tỷ giá giảm. Chính vì vậy, doanh nghiệp đổ xô đi vay ngoại tệ.

Điều này dẫn đến mất cân đối cơ cấu tín dụng nghiêm trọng. Sự chênh lệch lãi suất (cả tiền gửi và cho vay) đáng kể giữa USD so với VNĐ khiến một số doanh nghiệp tăng vay USD rồi bán đi, lấy tiền gửi vào ngân hàng lấy lãi. Với 100 nghìn USD, bán được khoảng 1,91 tỉ đồng thì số lãi sau một năm gửi theo lãi suất 11,5%/năm là 219 triệu đồng; trong khi đó, họ chỉ phải trả lãi ngân hàng theo lãi suất vay khoảng 6%năm, tương đương hơn 114,6 triệu đồng. Điều này làm huy động vốn bằng VNĐ tăng cao, bằng USD giảm và ngược lại, dư nợ cho vay bằng USD tăng, bằng VNĐ giảm hoặc tăng không tương xứng với số vốn huy động được.  

Rủi ro về lâu dài

Sự mất cân đối cơ cấu tín dụng  trên có thể tạo ra các rủi ro dài hạn. Việc giảm giá đồng USD có thể chỉ diễn ra trong ngắn hạn. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp vay USD để đầu tư dài hạn. Như vậy, ở cả góc độ gửi tiền và đi vay thì các tính toán trên của doanh nghiệp chưa tính hết các xu thế bất lợi có thể phát sinh. Bởi lẽ, các tính toán quy đổi tiền tệ trên chỉ mới áp dụng một mức tỷ giá thống nhất, doanh nghiệp chỉ được lợi trong bối cảnh tỷ giá luôn ổn định hoặc giảm xuống. Nếu đồng USD tăng giá, doanh nghiệp không có ngoại tệ qua nguồn xuất khẩu để trả nợ sẽ gặp rủi ro rất lớn.

Ngoài ra, việc tăng vay ngoại tệ tại các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ làm tăng tỷ lệ nhập siêu. Trong khi doanh nghiệp có ngoại tệ lại đem bán để lấy nội tệ phục vụ  hoạt động kinh doanh hoặc có thể gửi ngân hàng. Doanh nghiệp vay ngoại tệ buộc phải trả nợ sau một kỳ hạn nhất định tạo ra áp lực lớn cho doanh nghiệp khi đến kỳ trả nợ và đến lúc đó, doanh nghiệp sẽ phải trả theo tỷ giá ở thời điểm trả nợ. Điều này cũng gây áp lực lên tỷ giá kỳ hạn trả nợ. Ngoài ra, có nhiều yếu tố khác làm thay đổi của lãi suất như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, cán cân thanh toán; hay sự điều chỉnh chính sách tiền tệ và tài khóa… Nếu tỷ giá tăng thì khoản lợi về chênh lệch lãi suất trên thị trường tiền tệ chưa chắc bù được cho khoản thiệt hại tỷ giá trên thị trường ngoại hối.

Để bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và bền vững doanh nghiệp cần tính toán kỹ khi vay vốn bằng ngoại tệ, chỉ vay trong phạm vi có thể thanh toán được hoặc vay các kỳ hạn ngắn. Mặt khác, doanh nghiệp vay vốn bằng ngoại tệ nên tham gia bảo hiểm tỷ giá kỳ hạn để hạn chế thiệt hại khi tỷ giá ngoại tệ tăng cao.

Mai Hương