Tuyển sinh đại học từ năm 2027: Các trường đề xuất giữ ít nhất 2 phương thức
Dự kiến từ năm 2027, mỗi ngành, chương trình đào tạo được sử dụng tối đa 3 phương thức tuyển sinh và từ năm 2028 còn 1 phương thức, không tính xét tuyển thẳng và cử tuyển. Theo đó, các trường không còn tự quy định điểm cộng đối với chứng chỉ ngoại ngữ, thành tích học sinh giỏi.
Để dạy và học không chạy theo tuyển sinh
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều các thông tư của Bộ GD&ĐT quy định về xác định số lượng tuyển sinh, chương trình đào tạo, tuyển sinh và đào tạo cao đẳng ngành Giáo dục mầm non, đại học và sau đại học. Một trong những nội dung được quan tâm là từ năm 2027, mỗi ngành, chương trình đào tạo sử dụng tối đa 3 phương thức tuyển sinh và từ năm 2028 còn 1 phương thức, không tính xét tuyển thẳng và cử tuyển.
Ông Đinh Đức Hiền, Giám đốc điều hành Trường Tiểu học, THCS & THPT FPT Bắc Giang cho rằng, trước hết cần nhìn vào bản chất của điểm cộng. Khi một chứng chỉ hoặc thành tích được cộng trực tiếp vào điểm xét tuyển, người sở hữu đương nhiên có lợi thế so với thí sinh khác.
Trong khi đó, khả năng tiếp cận IELTS, các kỳ thi hay hoạt động được cộng điểm vẫn phụ thuộc vào địa bàn, điều kiện kinh tế và khả năng chi trả của gia đình. Cùng một chứng chỉ nhưng mỗi trường có thể quy đổi, cộng điểm và áp dụng cho những tổ hợp khác nhau. Ở nhóm điểm cao, chênh lệch chỉ 0,25 - 0,5 điểm cũng có thể làm thay đổi thứ tự trúng tuyển.
Vì vậy, việc thống nhất cách ghi nhận chứng chỉ, thành tích có thể giúp cách tính điểm rõ ràng hơn, hạn chế tình trạng điểm xét tuyển vượt quá 30. Tuy nhiên, theo thầy Hiền, không nên hiểu bỏ điểm cộng đồng nghĩa điểm chuẩn sẽ giảm. Điểm chuẩn còn phụ thuộc vào chỉ tiêu, số lượng thí sinh và sức hút của từng ngành. Nếu lợi thế chỉ chuyển từ cột “điểm cộng” sang một bảng “điểm quy đổi” quá rộng thì vấn đề cũ vẫn còn.
Điều quan trọng là xác lập nguyên tắc: một năng lực được ghi nhận một lần, đúng với yêu cầu của ngành và theo cùng một quy tắc đối với mọi thí sinh. IELTS vì thế không mất giá trị khi không còn được cộng điểm. Chứng chỉ vẫn có thể được sử dụng để quy đổi thay thế môn Ngoại ngữ trong tổ hợp hoặc chứng minh chuẩn đầu vào đối với chương trình giảng dạy bằng ngoại ngữ.
Từ góc độ dạy và học, tuyển sinh đại học tác động ngược rất rõ đến giáo dục phổ thông. Khi IELTS được cộng điểm, học sinh có xu hướng học chứng chỉ sớm, phụ huynh đầu tư nhiều hơn cho các trung tâm, còn nhà trường chịu áp lực chạy theo số lượng chứng chỉ. Việc bỏ điểm cộng có thể giúp giảm cuộc đua này, đưa việc học ngoại ngữ trở về với năng lực sử dụng thực chất.
Tuy nhiên, nếu ngoại ngữ không còn được ghi nhận hợp lý trong tuyển sinh, một bộ phận học sinh và phụ huynh có thể giảm đầu tư. Tương tự, nếu một phương thức duy nhất phụ thuộc quá lớn vào điểm thi tốt nghiệp THPT, việc dạy và học có nguy cơ quay trở lại luyện thi, học theo dạng bài, khiến những năng lực khác của chương trình phổ thông bị xem nhẹ.
Bởi vậy, theo ông Hiền, trường phổ thông không nên chạy theo mọi thay đổi tuyển sinh. Nền tảng bền vững vẫn phải là chương trình chính khóa, năng lực tự học, tư duy, ngoại ngữ, công nghệ và khả năng giải quyết vấn đề. Năm 2027, cần được xem là giai đoạn quan trọng để đánh giá chính sách bằng dữ liệu thực tế. Sau mùa tuyển sinh cần có dữ liệu về độ chênh giữa các nguồn điểm, khả năng dự báo kết quả học tập ở đại học, chi phí thí sinh phải bỏ ra, số kỳ thi thực tế phải tham gia và mức độ tiếp cận của học sinh ở những địa bàn khác nhau.
Trên cơ sở đó mới nên quyết định cách áp dụng từ năm 2028. Mọi thay đổi cũng cần được công bố đủ sớm, có giai đoạn chuyển tiếp để học sinh chủ động xây dựng kế hoạch học tập.
Tinh gọn phương thức, siết công bằng xét tuyển
Theo ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT), việc sửa đổi được thực hiện trong bối cảnh giáo dục đại học đặt ra nhiều yêu cầu mới về hoàn thiện thể chế, quản trị, chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Những quy định này tác động trực tiếp đến cơ sở đào tạo, người học và thí sinh nên cần được trao đổi kỹ, tạo sự thống nhất trong nhận thức và thuận lợi khi triển khai.
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm là đề xuất tinh gọn phương thức tuyển sinh. Làm rõ đề xuất này, ông Nguyễn Tiến Thảo nhấn mạnh, hướng tới một phương thức tuyển sinh không đồng nghĩa Bộ GD&ĐT áp đặt một phương thức chung cho tất cả trường đại học. Các cơ sở đào tạo vẫn thực hiện quyền tự chủ trong lựa chọn phương thức phù hợp với yêu cầu đầu vào của từng ngành, chương trình. Vấn đề cốt lõi là phương thức được lựa chọn phải đánh giá đúng năng lực cần thiết của người học và tạo cơ hội cạnh tranh công bằng giữa các thí sinh.
Cùng với giảm phương thức, dự thảo đề xuất không cộng điểm đối với chứng chỉ ngoại ngữ và thành tích học sinh giỏi. Theo ông Nguyễn Tiến Thảo, điều này không có nghĩa những chứng chỉ, thành tích trên không còn được sử dụng trong tuyển sinh.
Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được quy đổi thay thế điểm môn Ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển. Thành tích học sinh giỏi quốc gia vẫn được sử dụng trong xét tuyển thẳng theo đối tượng và điều kiện quy định. Nếu ngoại ngữ là năng lực cần thiết đối với đầu vào của một chương trình đào tạo, cơ sở đào tạo có thể đưa yêu cầu ngoại ngữ vào tiêu chí tuyển sinh.