Từ ứng cử đến tham chính thực chất: Cơ chế pháp lý và giải pháp nâng cao vị thế nữ ứng cử viên
(PLVN) - Quyền ứng cử là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để bảo đảm quyền tham chính thực chất của phụ nữ. Khoảng cách giữa “có tên trong danh sách ứng cử” và “có tiếng nói quyết định chính sách” phản ánh những rào cản cấu trúc, trong đó yếu tố pháp lý và thể chế đóng vai trò then chốt.
Tiếp tục nâng cao tỷ lệ đại biểu nữ
Chiếm hơn một nửa dân số, phụ nữ có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Tạo điều kiện cho phụ nữ tham chính không những bảo đảm trao quyền cho phụ nữ, lồng ghép các nội dung về giới trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách mà còn thúc đẩy sự phát triển công bằng, bền vững.
Cùng với nam giới, việc tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ hội để nữ giới lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, những người đủ tiêu chuẩn, không phân biệt nữ, nam xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. Phụ nữ thực hiện quyền bầu cử của mình là trực tiếp phát huy quyền dân chủ trong xây dựng Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội. Phụ nữ tham gia bầu cử đó vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của chính bản thân phụ nữ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng công tác vận động phụ nữ, khơi dậy tinh thần yêu nước, thương nòi, tổ chức hướng dẫn phụ nữ tham gia vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa quy định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”.
Đó là quy định lần đầu tiên có ý nghĩa rất lớn đối với phụ nữ trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vừa mới được thành lập. Điều này đã góp phần quan trọng, tạo nền tảng cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, giải phóng con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam. Quy định đó thực sự góp phần phá tan xiềng xích tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm trước đó.
Trao đổi với báo chí, bà Ngô Thị Thu Hà, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ giáo dục và nâng cao năng lực cho phụ nữ (CEPEW) đã từng chia sẻ: “Kết quả khảo sát năm 2020 đối với cử tri trẻ cho thấy không cần biết người ứng cử là nam hay là nữ mà họ sẽ nhìn về cách mà các ứng cử viên đưa ra kế hoạch hành động hoặc cách mà ứng viên đã lãnh đạo như thế nào. Họ bầu dựa trên kết quả này chứ không bầu trên yếu tố giới tính của ứng cử viên. Đây chính là cơ hội để bảo đảm nam và nữ tham gia cân bằng về số lượng, tỷ lệ và chất lượng”.
Hiến pháp năm 2013 đã hiến định sâu sắc hơn quyền của phụ nữ trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp năm 1992 và các Hiến pháp trước đó. Tại Chương II Hiến pháp năm 2013 đã hiến định các quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng. Ngoài các quyền trên, phụ nữ còn có quyền: Được Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội (khoản 2 Điều 26); Được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, quyền lợi của người mẹ và trẻ em (khoản 2 Điều 36); Được Nhà nước, xã hội và gia đình bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, thực hiện kế hoạch hóa gia đình (khoản 2 Điều 58).
Kỳ bầu cử Quốc hội khóa XVI sắp đến gần, đây là kỳ bầu cử được kỳ vọng tiếp tục nâng cao tỷ lệ đại biểu nữ. Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 do Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia chủ trì ngày 26/2/2026, con số đưa ra cho thấy, về cơ cấu kết hợp chung của cả nước người ứng cử là phụ nữ có 392 người chiếm tỷ lệ 45,37%.
Làm gì để thu hẹp khoảng cách giữa ứng cử và tham chính thực chất?
Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) 2020 chỉ ra rằng những lĩnh vực phụ nữ quan tâm khác với nam giới. Phụ nữ quan tâm nhiều hơn đến công tác xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Phụ nữ ít tham gia vào quá trình ra quyết định ở địa phương, ít tiếp cận với Internet và các dịch vụ Chính phủ điện tử hơn. Những khác biệt này nêu bật sự cần thiết phải có đại diện công bằng trong các cơ quan dân cử.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030 “tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%”. Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 yêu cầu có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.
Mục tiêu đạt 35% số đại biểu Quốc hội là nữ giúp giảm bớt định kiến xã hội đối với ứng cử viên nữ có đủ năng lực, qua đó có thể thấy ý nghĩa của việc đặt mục tiêu bình đẳng giới trong chính sách, pháp luật về bầu cử của Việt Nam. Mục tiêu này thực tế là cần thiết bởi cử tri vẫn còn định kiến với ứng cử viên nữ khi bầu hoặc giới thiệu ứng cử viên dù rằng, những định kiến về giới trong bầu cử đang dần thay đổi thời gian gần đây.
Báo cáo phản biện “Thực thi Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) tại Việt Nam” của Hội LHPN Việt Nam mới đây nhất cho thấy về vấn đề phụ nữ tham gia đời sống chính trị và công cộng (thực thi Điều 7 Công ước CEDAW) cho thấy, vấn đề bất cập đặt ra đối với phụ nữ tham gia đời sống chính trị và công cộng là: một số chỉ tiêu về tỷ lệ nữ lãnh đạo trong các Nghị quyết của Đảng, chương trình hành động quốc gia thiếu tính bắt buộc, thường sử dụng cụm từ “khuyến khích” nên không được coi như nhiệm vụ chính trị bắt buộc các cơ quan hữu trách phải có giải pháp quyết liệt tìm nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển cán bộ nữ.
Chênh lệch tuổi nghỉ hưu trước đây cũng từng tạo ra khoảng trống trong quy hoạch cán bộ nữ. Dù đã có lộ trình điều chỉnh, nhưng ảnh hưởng của chính sách cũ vẫn để lại hệ quả nhất định trong cấu trúc nhân sự.
Định kiến giới cho rằng nam giới có những tố chất phù hợp với vai trò lãnh đạo; nữ giới cần ưu tiên gia đình trước công việc vẫn tồn tại dai dẳng không chỉ trong trong tư duy của người làm công tác cán bộ mà cả ngay trong phụ nữ tạo ra mô hình “nam trưởng, nữ phó” ở rất nhiều cơ quan và địa phương.

Số liệu cho thấy phụ nữ dành trung bình 202 phút/ngày cho công việc chăm sóc không hưởng lương, cao gần gấp đôi nam giới. Điều này không chỉ là vấn đề xã hội học, mà còn là vấn đề pháp lý: hệ thống an sinh và dịch vụ xã hội chưa đủ mạnh để giải phóng phụ nữ khỏi gánh nặng kép. Hệ thống dịch vụ gia đình, hỗ trợ chăm sóc chưa đồng bộ buộc cán bộ nữ phải đối mặt với áp lực phải cân bằng giữa công việc và gia đình. Sự thiếu hụt các cơ chế hỗ trợ cũng như sự động viên từ chính người thân trong gia đình khiến không ít cán bộ nữ e ngại hoặc phải từ chối các cơ hội điều động, luân chuyển công tác đi xa - một điều kiện quan trọng để thăng tiến trong sự nghiệp…
Về phía Hội LHPN Việt Nam, để thúc đẩy phụ nữ tham gia đời sống chính trị và công cộng, Chương trình tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong lãnh đạo giai đoạn 2021 - 2030 đã tạo khung pháp lý cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ. Hội LHPN Việt Nam đã đào tạo hàng trăm nghìn lượt cán bộ nữ về kỹ năng quản lý và lồng ghép giới. Tuy nhiên, trong bối cảnh chính trị hiện đại, vẫn cho thấy cần bổ sung các nội dung như: đào tạo kỹ năng truyền thông chính trị, tranh cử; bồi dưỡng kỹ năng phân tích chính sách và giám sát; thiết lập cơ chế mentoring (cơ chế hợp tác, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm giữa người giàu kinh nghiệm) giữa cán bộ nữ cấp cao và nguồn cán bộ trẻ. Đồng thời, cần nghiên cứu áp dụng biện pháp đặc biệt tạm thời theo tinh thần CEDAW, như quy định tỷ lệ tối thiểu bắt buộc đối với một số vị trí khi tỷ lệ nữ dưới ngưỡng 30%...
Và để thu hẹp khoảng cách giữa ứng cử và tham chính thực chất, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ nữ; quy định rõ trách nhiệm người đứng đầu trong bảo đảm tỷ lệ nữ; phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc trẻ em, người cao tuổi; tăng cường giám sát thực thi chính sách bình đẳng giới trong công tác cán bộ…
Theo Hội LHPN Việt Nam, trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI có 12 ứng cử viên là nữ Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV, 24 ứng cử viên là cán bộ Hội LHPN các cấp. Con số này không chỉ phản ánh sự ghi nhận sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với vai trò của phái nữ trong thời đại mới, mà còn cho thấy một bước tiến dài trong công cuộc thực hiện bình đẳng giới tại Việt Nam; một chiến lược nhân sự nữ rất bài bản: vừa hội tụ những trí tuệ dẫn dắt từ Trung ương, vừa mang đậm hơi thở thực tiễn từ cơ sở.