Từ tro cốt thành 'ngọc': Xu hướng tưởng niệm văn minh trong xã hội hiện đại
(PLVN) - Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, quỹ đất dành cho nghĩa trang ngày càng thu hẹp, áp lực bảo vệ môi trường gia tăng, nhiều chuyên gia cho rằng “ngọc hóa” có thể trở thành một lời giải mới cho bài toán an táng ở Việt Nam.
Sáng nay (28/3), tại Hà Nội đã diễn ra Hội thảo “Ngọc Hoá: Xu hướng an táng văn minh và triển vọng tại Việt Nam” do Viện kinh tế và Pháp luật Quốc tế tổ chức.
Lời giải cho bài toán thiếu quỹ đất đô thị và ô nhiễm môi trường
Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.TSKH Vũ Minh Giang - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, cho biết trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, an táng không chỉ là nghi thức tiễn biệt người đã khuất mà còn phản ánh sâu sắc đời sống văn hoá, tín ngưỡng và quan niệm của con người về sự sống - cái chết. Từ những hình thức sơ khai như chôn cất trực tiếp trong lòng đất, địa táng truyền thống đến hoả táng, mỗi giai đoạn lịch sử đều ghi dấu những cách ứng xử khác nhau với cái chết.

Theo ông, bước vào thời kỳ hiện đại, cùng với quá trình đô thị hoá, biến đổi xã hội và yêu cầu phát triển bền vững, lĩnh vực an táng tại Việt Nam đang có nhiều chuyển biến. Các hình thức mới như hỏa táng, lưu tro, nghĩa trang công viên hay những công nghệ tiên tiến như ngọc hóa di cốt dần xuất hiện, mở ra thêm những lựa chọn mới bên cạnh các tập quán truyền thống.
Một xu hướng mới trong lĩnh vực tang lễ đã hình thành và từng bước được xã hội quan tâm, đó là “Ngọc hóa” - chuyển hóa tro cốt của người đã khuất thành các tinh thể dạng ngọc. Hình thức này không chỉ là sự phát triển tiếp theo sau hỏa táng, mà còn là một giải pháp mang tính nhân văn, bền vững và phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường cũng như phù hợp với điều kiện không gian sống ngày càng thu hẹp như hiện nay.
Làm rõ hơn về mô hình ngọc hoá, nhà báo Đinh Ngọc Dương - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Kinh tế và Pháp luật quốc tế cho biết đây là quá trình tinh thể hoá tro cốt của người đã khuất thành các dạng tinh thể bền vững. Theo ông, phương thức này mang lại nhiều ưu điểm như tiết kiệm quỹ đất, giảm áp lực cho không gian an táng, đồng thời giúp lưu giữ tro cốt trong trạng thái ổn định, lâu dài, hạn chế nguy cơ thất lạc hoặc hư hại do tác động của thiên tai.
Cũng theo ông Dương, sau khi kết tinh, sản phẩm có trọng lượng nhỏ, sạch sẽ, thuận tiện cho việc lưu giữ, di chuyển và không gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, hình thức này cũng góp phần thay đổi cách nhìn về tro cốt, giảm cảm giác nặng nề, sợ hãi trong tâm lý của một bộ phận người dân.

Về quy trình thực hiện, nhà báo Đinh Ngọc Dương cho biết ngọc hoá trải qua nhiều công đoạn. Trước hết là hoả táng bằng công nghệ hiện đại để thu được tro cốt mịn. Tiếp đó, tro cốt được xử lý, tinh lọc nhằm loại bỏ tạp chất, bảo đảm thành phần hoá học phù hợp cho quá trình kết tinh. Ở bước tiếp theo, vật liệu được đưa vào môi trường nhiệt độ và áp suất cao để tái cấu trúc thành tinh thể ổn định, có thể là kim cương nhân tạo hoặc linh ngọc. Cuối cùng là công đoạn chế tác, đánh bóng và hoàn thiện sản phẩm theo nhu cầu lưu giữ hoặc tạo thành vật phẩm tưởng niệm.
Theo ông, toàn bộ quy trình này đòi hỏi phải được kiểm soát nghiêm ngặt về công nghệ, kỹ thuật và an toàn nhằm bảo đảm tính ổn định của sản phẩm, đồng thời tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật liên quan.
Đánh giá về triển vọng tại Việt Nam, ông Đinh Ngọc Dương cho rằng đây là phương thức có nhiều tiềm năng phát triển trong bối cảnh xã hội ngày càng quan tâm hơn đến các giải pháp an táng văn minh, tiết kiệm tài nguyên và thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, mô hình này cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành, trong đó nêu rõ yêu cầu phát triển con người toàn diện, xây dựng nếp sống văn minh và phát triển bền vững.
Cũng theo ông Dương, với điều kiện của nhiều gia đình Việt Nam hiện nay, nếu có mức chi phí phù hợp, ngọc hoá có thể trở thành một lựa chọn đáng cân nhắc. Sau khi kết tinh thành “linh ngọc”, sản phẩm có thể được an vị trong hoặc dưới bệ của các pho tượng, trong những tháp nhỏ hoặc không gian tưởng niệm riêng, tạo nên nơi tưởng nhớ ấm cúng, trang trọng tại các bảo tháp hoặc khu tưởng niệm chuyên biệt.

Cùng quan điểm về sự cần thiết đổi mới các hình thức an táng trong bối cảnh hiện đại, PGS.TS Vũ Văn Phúc cũng cho rằng, việc sử dụng diện tích đất lớn cho nghĩa trang, chi phí xây dựng và duy tu mộ, cùng nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường đất và nguồn nước ngầm đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý và quy hoạch đô thị. Do đó, ngọc hóa có thể được xem là một giải pháp góp phần khắc phục những hạn chế của các hình thức an táng truyền thống.
“Hiện nay, tỷ lệ hỏa táng tại Việt Nam đang gia tăng rõ rệt. Trên phạm vi cả nước, hỏa táng hiện chiếm khoảng 30-40%, tại các đô thị lớn như Hà Nội, tỷ lệ này đã vượt 80% và đang trở thành hình thức an táng chủ đạo nhờ những ưu điểm như tiết kiệm quỹ đất, bảo đảm vệ sinh môi trường và phù hợp với nhịp sống hiện đại”, ông nói.
Do đó, ông cho rằng, ngọc hoá có cơ sở khoa học rõ ràng, đồng thời mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi tro cốt được kết tinh thành những tinh thể có độ bền vững cao, tạo nên một hình thức lưu giữ vừa hiện đại vừa trang trọng.
Cần hành lang pháp lý cho “Ngọc hoá”
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, ngọc hóa gợi mở một hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Ông dẫn thực tế tại các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội mỗi năm có khoảng 50.000 người mất, mỗi trường hợp an táng 3m2 đất thì lên đến 150.000m2 đất chỉ tính riêng cho việc an táng. Điều này cho thấy áp lực quỹ đất dành cho nghĩa trang đang ngày càng lớn, không còn là câu chuyện riêng của ngành xây dựng hay quản lý đô thị mà đã trở thành vấn đề xã hội, môi trường và văn hóa.

Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm các giải pháp hậu sự tiết kiệm đất đai, sạch sẽ, văn minh nhưng vẫn bảo đảm sự trang nghiêm và nhu cầu tâm linh chính đáng của người dân là yêu cầu cần thiết.
Theo ông, nếu được nghiên cứu bài bản, ngọc hóa có thể mở ra một mô hình tưởng niệm mới, góp phần giảm áp lực đất đai, tổ chức không gian tưởng niệm thanh sạch, bền vững và phù hợp hơn với cấu trúc xã hội đô thị hiện đại. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh đây là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến văn hóa và tâm linh, vì vậy cần được tiếp cận hết sức thận trọng.
Do đó, ông Sơn đề xuất đề xuất một số định hướng nếu muốn ngọc hóa có triển vọng tại Việt Nam. Trước hết, cần tiếp tục nghiên cứu sâu về phương diện văn hóa - xã hội, lắng nghe cộng đồng và các nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo, xã hội học, tâm lý học để hiểu rõ mức độ đón nhận, những băn khoăn và rào cản tâm lý.
Thứ hai, cần xây dựng cơ sở khoa học và hành lang pháp lý rõ ràng. Một hình thức mới muốn đi vào đời sống bền vững phải có tiêu chuẩn công nghệ, quy trình kiểm chứng, quy trình dịch vụ, cơ chế quản lý, giám sát và bảo đảm quyền lợi cho người dân. “Không thể để một vấn đề thiêng liêng như hậu sự bị đặt trong trạng thái mơ hồ và thiếu chuẩn mực”, ông nhấn mạnh.
Thứ ba, ông cho rằng cần đặt ngọc hóa trong tổng thể chiến lược xây dựng nếp sống văn minh, phát triển đô thị bền vững và bảo vệ môi trường. Nói cách khác, đây không chỉ là câu chuyện của một doanh nghiệp hay một mô hình riêng lẻ, mà cần được nhìn nhận như một phần trong định hướng dài hạn về văn hóa tang lễ của xã hội hiện đại.
Đồng quan điểm, PGS.TS Vũ Văn Phúc cho rằng: cần sớm xây dựng hành lang pháp lý cho hình thức ngọc hóa; đồng thời, đơn vị triển khai phải từng bước tiếp nhận, làm chủ công nghệ hiện đại để bảo đảm tính khả thi, minh bạch và bền vững khi áp dụng vào thực tiễn.