Từ tố cáo đến xử lý hành vi bạo lực gia đình: Cần xóa bỏ các 'điểm nghẽn'

(PLVN) - Dù Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ) năm 2022 đã mở rộng hành lang pháp lý, quy định rõ ràng hơn về quyền và các kênh tố giác, nhưng khoảng cách từ tiếng kêu cứu của người bị BLGĐ đến lúc cơ quan chức năng thực sự can thiệp vẫn còn nhiều “điểm nghẽn”. Để có góc nhìn đa chiều về thực trạng này, phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Luật sư Trương Thị Tuyết Nga - Đoàn Luật sư TP HCM.

Thưa Luật sư, Luật PCBLGĐ đã đa dạng hóa các kênh tiếp nhận tin báo từ tổng đài quốc gia, công an, UBND cho đến trưởng thôn/tổ trưởng dân phố. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều người bị BLGĐ chọn cách im lặng chịu đựng nhiều năm trước khi tố giác. Dưới góc độ thực tiễn, bà nhìn nhận “điểm nghẽn” này nằm ở đâu?

Luật sư Trương Thị Tuyết Nga. (Nguồn: NVCC)
Luật sư Trương Thị Tuyết Nga. (Nguồn: NVCC)

- Có một thực tế mà những người làm nghề luật chúng tôi thường gặp: Hành động tố cáo chỉ diễn ra khi người bị BLGĐ đã bị dồn đến bước đường cùng, thường là khi tính mạng bị đe dọa hoặc con cái họ bị ảnh hưởng. Vì thế, “điểm nghẽn” lớn nhất không nằm ở việc thiếu kênh tiếp nhận, mà nằm ở định kiến xã hội và sự ràng buộc khó tháo gỡ ngay trong chính mỗi gia đình. Thứ nhất là tâm lý “xấu chàng hổ ai”, e ngại định kiến xã hội. Thứ hai là sự phụ thuộc về kinh tế và nỗi sợ bị trả thù.

Theo Điều 34 Luật PCBLGĐ, người bị BLGĐ có quyền yêu cầu giữ bí mật về thông tin cá nhân khi báo tin. Nhưng trong đời sống thực, ở một khu dân cư nhỏ, việc công an đến nhà xác minh là chuyện cả xóm đều biết. Sự thiếu hụt các mạng lưới hỗ trợ an toàn ngay tức thời như nhà tạm lánh đủ tiêu chuẩn khiến người bị BLGĐ e ngại vì thông báo BLGĐ xong, người bạo hành chưa chắc bị cách ly ngay, mà bản thân họ lại phải đối mặt với những trận đòn thù tai hại hơn.

Khâu tiếp nhận và phản ứng ban đầu của cơ quan chức năng tại cơ sở có vai trò quyết định trong việc bảo vệ người bị BLGĐ. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tình trạng cán bộ cơ sở xem BLGĐ chỉ là “mâu thuẫn vợ chồng” và ưu tiên giải quyết bằng biện pháp hòa giải. Bà đánh giá như thế nào về công tác xử lý tin báo ở cấp cơ sở hiện nay?

- Đây chính là một trong những rào cản trong khâu thực thi pháp luật. Văn hóa Á Đông đề cao sự dĩ hòa vi quý, nhưng việc nhầm lẫn giữa “hòa giải mâu thuẫn gia đình” và “dung túng cho hành vi vi phạm pháp luật” là vô cùng nguy hiểm.

Luật PCBLGĐ và Nghị định 76/2023/NĐ-CP quy định rất nghiêm: Khi nhận được tin báo, Chủ tịch UBND cấp xã hoặc cơ quan Công an phải tiến hành kiểm tra, xác minh ngay. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu không có thương tích chảy máu, bầm dập rõ ràng, nhiều cán bộ cơ sở vẫn áp dụng cơ chế “nhắc nhở, khuyên can”.

Cần hiểu rằng, việc hòa giải chỉ được tiến hành khi không có hành vi bạo lực, hoặc hành vi đó chưa đến mức xử lý hành chính/hình sự và tuyệt đối không được hòa giải khi nạn nhân không đồng ý. Sự chậm trễ, nể nang hay can thiệp nửa vời của cấp cơ sở không những làm luật giảm tính răn đe mà còn gián tiếp đẩy người bị BLGĐ vào thế cô lập, mất niềm tin vào hệ thống bảo vệ.

Đề cập đến thương tích rõ ràng, quy định pháp luật đã chính thức định danh và cụ thể hóa bạo lực tinh thần, bạo lực kinh tế, bạo lực tình dục. Nhưng làm thế nào để tố giác và xử lý những “vết thương không chảy máu” này, thưa bà?

- Xử lý bạo lực thể xác khó một, thì xử lý bạo lực tinh thần, kinh tế khó mười. Việc chứng minh bị kiểm soát tài chính, bị chì chiết, lăng mạ mỗi ngày hay bị ép buộc quan hệ tình dục đòi hỏi quá trình thu thập chứng cứ rất gian nan.

Thực tế tiếp nhận tin báo cho thấy, cơ quan chức năng thường lúng túng khi xử lý các dạng bạo lực này vì thiếu bằng chứng. Để tố giác thành công, nạn nhân cần ý thức thu thập chứng cứ: ghi âm, ghi hình, lưu trữ tin nhắn đe dọa, sao kê tài khoản ngân hàng bị phong tỏa, hoặc có sự xác nhận của chuyên gia tâm lý về tình trạng hoảng loạn kéo dài.

Về phía cơ quan thực thi, cần có sự thay đổi triệt để trong tư duy điều tra. Không thể chỉ chờ đợi “giấy chứng nhận thương tích” của bệnh viện, mà cần phối hợp với các tổ chức xã hội, chuyên gia tâm lý để đánh giá mức độ tổn thương của người bị BLGĐ.

Từ kinh nghiệm thực tiễn bảo vệ người bị BLGĐ, theo bà, đâu là yếu tố then chốt để công tác tiếp nhận và xử lý tin báo BLGĐ đạt hiệu quả thực chất, tránh tình trạng giải quyết hình thức?

- Yếu tố then chốt nằm ở “Trách nhiệm công vụ” và “Tốc độ can thiệp”. Luật PCBLGĐ đã cụ thể hóa vấn đề này. Tại khoản 7 Điều 5 nghiêm cấm hành vi “dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi BLGĐ”. Như vậy, chỉ khi cán bộ thực thi nhận thức rõ các chế tài đối với hành vi thiếu trách nhiệm, từ xử lý kỷ luật đến truy cứu trách nhiệm hình sự nếu để xảy ra hậu quả nghiêm trọng, thì công tác tiếp nhận và xử lý tin báo mới đạt được tính kịp thời, dứt điểm.

Ngoài ra, việc giải quyết BLGĐ đòi hỏi cơ chế phối hợp liên ngành, không thể chỉ giao phó cho lực lượng Công an. Cần thiết lập mô hình can thiệp đồng bộ như: Công an giữ vai trò can thiệp, ngăn chặn tức thời hành vi vi phạm, trong khi Hội Phụ nữ và cán bộ công tác xã hội thực hiện các biện pháp hỗ trợ, bảo vệ an toàn cho người bị BLGĐ. Mục tiêu cốt lõi là bảo đảm tính răn đe nghiêm khắc của pháp luật đối với người vi phạm, đồng thời tạo ra một cơ chế bảo vệ thực chất để người bị BLGĐ yên tâm trình báo thay vì e ngại các rào cản về thủ tục.

Có thể thấy, hành lang pháp lý về PCBLGĐ dù được mở rộng và cụ thể hóa đến đâu, vẫn sẽ mất đi tính hiệu lực nếu khâu thực thi tại cơ sở còn tồn tại những “khoảng trống”. Việc khơi thông các “điểm nghẽn” trong công tác tiếp nhận và xử lý tin báo không chỉ đòi hỏi việc siết chặt trách nhiệm công vụ, thay đổi tư duy của cán bộ cơ sở, mà còn cần sự vận hành thực chất của mạng lưới hỗ trợ an toàn.

Chỉ khi pháp luật được thực thi bằng sự quyết liệt và một cơ chế can thiệp đồng bộ, những quy định mới thực sự trở thành lá chắn vững chắc để người bị BLGĐ an tâm tìm đến thay vì chọn cách im lặng chịu đựng.

Xin cảm ơn Luật sư!

*****

"Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp thực hiện"

Ngọc Mai (thực hiện)