Từ Nghị quyết số 20-NQ/TW đến nền tảng pháp luật vững chắc cho quốc gia biển mạnh - Bài 3: Khắc phục “khoảng trống” thể chế cho kinh tế biển xanh, chống chịu biến đổi khí hậu
Hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, biển không chỉ là không gian khai thác tài nguyên, mà còn là nguồn năng lượng tái tạo, nơi hấp thụ và lưu giữ carbon, “lá chắn” trước biến đổi khí hậu, kho đa dạng sinh học và nền tảng sinh kế của hàng triệu cư dân ven biển. Để những giá trị ấy trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững, yêu cầu đặt ra là hoàn thiện thể chế để điều hòa các lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội. Đây cũng là quan điểm của Nghị quyết số 20-NQ/TW, phát triển trong giới hạn sinh thái, kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới
Nghị quyết 20-NQ/TW đặt mục tiêu kinh tế đến năm 2030: Tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước. Thu nhập bình quân đầu người các tỉnh, thành phố ven biển cao hơn 1,2 - 1,3 lần bình quân cả nước. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của các địa phương ven biển phấn đấu đạt trên 11%/năm. Phát triển các dự án điện gió ngoài khơi (ĐGNK) có công suất 6 - 10GW. Thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu do đội tàu biển Việt Nam đảm nhận đạt 20%; chi phí logistics giảm còn dưới 12% GDP. Tốc độ tăng trưởng tổng thu du lịch biển, đảo bình quân 14%/năm. Giá trị sản xuất nuôi biển tăng bình quân 8%/năm; tỉ trọng nuôi biển trong tổng giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 15%.
Để hiện thực hóa những mục tiêu này, phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) và các ngành, lĩnh vực biển mới được xác định là một trong những định hướng quan trọng, nhằm mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao giá trị kinh tế biển. Cụ thể, Nghị quyết 20-NQ/TW yêu cầu hoàn thiện quy hoạch, cơ chế, chính sách phát triển ĐGNK, điện mặt trời trên biển và các loại hình năng lượng khác; xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các dự án NLTT biển quy mô lớn gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ. Cùng với thúc đẩy chuyển đổi năng lượng bền vững tại vùng ven biển, tăng tỷ trọng NLTT, Nghị quyết định hướng phát triển nguồn điện tại chỗ ở khu vực xa bờ, các trung tâm dữ liệu ven biển và những ngành kinh tế mới như nuôi biển công nghệ cao, y - dược biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen và ammonia xanh.
Tuy nhiên, để chuyển những định hướng trên thành động lực tăng trưởng thực chất, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển công nghệ hay thu hút nguồn lực đầu tư, mà trước hết phải là hoàn thiện một hệ thống thể chế đủ khả năng điều phối các hoạt động kinh tế trên biển. ĐGNK là một ví dụ điển hình khi một dự án có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về điện lực, đầu tư, đấu thầu, tài nguyên và môi trường biển, hàng hải, thủy sản, quốc phòng, an ninh và bảo tồn thiên nhiên. Ở góc độ pháp lý, Luật Điện lực năm 2024 đã dành riêng một mục gồm bốn điều quy định về ĐGNK, từ khảo sát đến chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư. Nghị định số 58/2025/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa các quy định về diện tích khu vực biển khảo sát, dữ liệu khảo sát, điều kiện và phương thức lựa chọn nhà đầu tư. Đây là những bước tiến trong việc hình thành hành lang pháp lý cho lĩnh vực năng lượng mới. Dù vậy, để đạt mục tiêu 6 - 10GW theo Nghị quyết 20-NQ/TW, cơ chế pháp lý còn phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển ĐGNK với luồng hàng hải, ngư trường, khu bảo tồn, yêu cầu quốc phòng, an ninh, bảo vệ cảnh quan và quyền lợi của cộng đồng sử dụng biển.
Cùng với ĐGNK, điện mặt trời nổi cũng đang mở ra hướng khai thác tiềm năng NLTT thông qua tận dụng diện tích mặt nước, hạn chế sử dụng quỹ đất trên cạn. Tại Việt Nam, mô hình này hiện chủ yếu được triển khai trên các hồ chứa nước, hồ thủy điện và hồ xử lý nước thải, trong khi một số quốc gia đã nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển hệ thống điện mặt trời nổi tại vùng nước ven biển và ngoài khơi. Trong chuyến thực địa Press Trip 2026 do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) tổ chức tại Quảng Ngãi và Đà Nẵng, phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam đã trực tiếp tìm hiểu về hệ thống điện mặt trời nổi công suất 0,25MW do Công ty NLTT Damintech triển khai tại Khu công nghiệp Tam Thăng.
Trao đổi với phóng viên, ông Phan Hoàng Anh, Giám đốc Công ty NLTT Damintech phân tích, điện mặt trời nổi có lợi thế ở khả năng tận dụng diện tích nước sẵn có, hạn chế việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích sản xuất năng lượng. Hiệu ứng làm mát các tấm pin từ môi trường nước có thể giúp cải thiện hiệu suất phát điện 8 - 10% trong điều kiện nắng nóng. Nếu đầu tư điện mặt trời nổi trên hồ thủy điện có thể tận dụng ngay đường dây truyền tải có sẵn từ nhà máy thủy điện, đặc biệt trong bối cảnh một số dự án năng lượng đang gặp khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng, giải tỏa công suất.
Bên cạnh NLTT, nuôi biển công nghệ cao cũng là lĩnh vực trọng tâm trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế biển, theo hướng giảm phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ (KHCN), làm chủ chuỗi giá trị. Một trong những hướng đi đáng chú ý là nghiên cứu sản xuất giống tôm hùm biển tại Việt Nam.
Tại Hội thảo “Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển và chọn giống tôm nước lợ tại Việt Nam” ngày 18/10/2026, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đã nhấn mạnh yêu cầu triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW gắn với nâng cao năng lực của ngành thủy sản xuất khẩu và làm chủ các công nghệ cốt lõi. Theo Bộ trưởng, để tạo ra những sản phẩm giống có chất lượng và khả năng cạnh tranh, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Mục tiêu không chỉ dừng ở việc tạo ra con giống trong phòng thí nghiệm mà phải hình thành năng lực sản xuất thương mại, từng bước phát triển doanh nghiệp giống có vị thế trong khu vực và thế giới.
Khi hệ sinh thái biển trở thành “tài sản khí hậu”
Các hệ sinh thái ven biển như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và bãi triều không chỉ cung cấp nguồn lợi thủy sản, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ bờ biển và duy trì sinh kế cộng đồng, mà còn có khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon trong sinh khối và các lớp trầm tích, góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế tác động của sóng, bão. Trong bối cảnh Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, những giá trị hệ sinh thái biển cần được nhìn nhận không chỉ từ góc độ bảo tồn mà còn gắn với chính sách khí hậu, tài chính xanh và thị trường carbon.

Nghị quyết 20-NQ/TW xác định rõ “khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển theo hướng xanh, thông minh, phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển, đại dương”. Nghị quyết nhấn mạnh việc mở rộng, quản lý hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển, các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao; bảo vệ, phục hồi và phát huy giá trị của các hệ sinh thái rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi triều, đầm phá và các vùng sinh thái đặc thù, với nhiều mục tiêu cụ thể.
Tuy nhiên, để những định hướng bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển đi vào thực tiễn, vấn đề đặt ra không chỉ là hoàn thiện cơ chế bảo vệ tài nguyên mà còn phải xác định, lượng hóa được các giá trị sinh thái, qua đó tạo cơ sở huy động nguồn lực đầu tư bền vững. Theo hướng này, trong khuôn khổ Chương trình Đối tác Hành động carbon xanh dương quốc gia (NBCAP), Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) Việt Nam đang xây dựng dự thảo Lộ trình hành động quốc gia về carbon xanh dương giai đoạn 2026 - 2030.
Sáu nhóm ưu tiên được xác định gồm chính sách và quản trị; bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái; tài chính và đầu tư; khoa học, dữ liệu và đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV); sự tham gia của khu vực tư nhân gắn với sinh kế bền vững; nâng cao năng lực và truyền thông. Việc xây dựng lộ trình hành động quốc gia cho thấy sự thay đổi cách tiếp cận từ việc coi bảo tồn chủ yếu là một khoản chi ngân sách sang tìm kiếm khả năng huy động nguồn lực đầu tư cho bảo tồn và phục hồi thiên nhiên, đồng thời bảo đảm sinh kế bền vững cho cư dân ven biển.
Quy mô phát triển điện mặt trời nổi tại Việt Nam hiện vẫn còn khiêm tốn. Theo ông Phan Hoàng Anh, ước tính loại hình này hiện chiếm khoảng 1% thị trường điện mặt trời và khoảng 0,1 - 0,2% tổng nguồn điện cả nước. Ngoài những thách thức về mặt kỹ thuật như khả năng chịu gió, thích ứng với biến động mực nước, chống ăn mòn, bảo đảm an toàn hệ thống neo giữ và bảo trì, việc thiếu cơ chế chính sách, thủ tục pháp lý chuyên biệt cũng đang hạn chế khả năng khai thác tiềm năng của điện mặt trời nổi. Đặc biệt, nếu mở rộng ra biển, các dự án cần gắn với quy hoạch không gian biển, đánh giá tác động môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo đảm quyền lợi của cộng đồng sử dụng biển.bảo tồn đa dạng sinh học và bảo đảm quyền lợi của cộng đồng sử dụng biển.
(Còn tiếp)