Tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn: Gìn giữ giá trị di sản của dân tộc

Tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Đền Hát Môn: Gìn giữ giá trị di sản của dân tộc
Lễ hội đền Hát Môn xuân Bính Ngọ 2026. (Ảnh: Duy Minh)

(PLVN) - Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, đền Hát Môn đã được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2013. Ngày 28/4/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 756/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Đây không chỉ là một quyết định mang tính quản lý di sản, mà còn là bước đi quan trọng nhằm gìn giữ những giá trị lịch sử, văn hóa, tâm linh gắn với Hai Bà Trưng - biểu tượng bất khuất của dân tộc.

Dấu ấn lịch sử thiêng liêng bên dòng sông Hát

Nằm tại xã Hát Môn (Hà Nội), đền Hát Môn là một trong những di tích tiêu biểu gắn liền với cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng - hai vị nữ vương đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Theo sử sách và truyền thuyết dân gian, vào năm 40 sau Công nguyên, trước ách đô hộ tàn bạo của giặc phương Bắc, Hai Bà Trưng đã dựng cờ khởi nghĩa, khơi dậy tinh thần độc lập dân tộc. Chỉ trong thời gian ngắn, nghĩa quân đã giành lại được quyền tự chủ. Tuy nhiên, đến năm 43, trước lực lượng xâm lược mạnh hơn, Hai Bà đã lui quân về vùng Hát Môn và tuẫn tiết bên dòng sông Hát, giữ trọn khí tiết của bậc anh hùng.

Chính tại vùng đất này, Nhân dân đã lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của Hai Bà. Trải qua hàng nghìn năm, đền Hát Môn không chỉ là nơi thờ tự mà còn là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí quật cường và tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam.

Điều đặc biệt là trong hệ thống đền thờ Hai Bà Trưng trên cả nước, đền Hát Môn được xem là một trong những công trình có quy mô lớn và mang nhiều dấu ấn lịch sử sâu sắc nhất. Không gian đền gắn liền với ba điển tích quan trọng: nơi Hai Bà dựng cờ khởi nghĩa, nơi khao quân sau chiến thắng và cũng là nơi Hai Bà tuẫn tiết.

Không chỉ mang giá trị lịch sử, đền Hát Môn còn là một quần thể kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, phản ánh trình độ xây dựng và tư duy thẩm mỹ của nhiều thời kỳ. Ngôi đền được xây dựng trên khu đất có thế “long chầu hổ phục”, phía trước là gò hình con rùa, phía xa là dòng sông Hát uốn lượn với thế đất vừa mang yếu tố phong thủy, vừa tạo nên không gian linh thiêng, hài hòa với thiên nhiên.

Hiện nay, di tích còn lưu giữ 293 di vật, cổ vật với nhiều chất liệu như gỗ, đá, đồng, sứ, giấy… có niên đại trải dài từ thời Lê, Tây Sơn đến Nguyễn. Những hiện vật này không chỉ có giá trị về mặt nghệ thuật mà còn là nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa.

Ông Trần Viết Hỗ - Tiểu ban Quản lý Di tích quốc gia đặc biệt đền Hát Môn cho biết, một trong những yếu tố làm nên sức sống bền vững của đền Hát Môn chính là lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm vào ngày 6 tháng 3 âm lịch. Lễ hội không chỉ là dịp tưởng nhớ Hai Bà Trưng mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc, thu hút đông đảo Nhân dân và du khách thập phương.

Giữ gìn ký ức, trao truyền giá trị di sản

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, đền Hát Môn đã được xếp hạng Di tích quốc gia từ năm 1964 và được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2013. Mới đây, ngày 28/4/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 756/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích. Đây được xem là bước ngoặt quan trọng trong công tác bảo tồn di sản.

Trong bối cảnh phát triển du lịch văn hóa hiện nay, đền Hát Môn có nhiều tiềm năng để trở thành một điểm đến tiêu biểu của Thủ đô. Không chỉ là nơi tham quan, du khách đến đây còn có cơ hội tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của Hai Bà Trưng, về cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống ách đô hộ phương Bắc, cũng như những giá trị văn hóa dân gian được lưu giữ qua nhiều thế hệ. Vì thế, mục tiêu của quy hoạch không chỉ dừng ở việc bảo tồn nguyên trạng di tích, mà còn hướng tới phát huy giá trị một cách bền vững. Đền Hát Môn được định hướng trở thành một điểm đến du lịch văn hóa - tín ngưỡng - sinh thái hấp dẫn, kết nối với hệ thống di sản của Hà Nội và các vùng lân cận.

Việc tu bổ, phục hồi di tích không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Đó là cách để giữ vững bản sắc, nuôi dưỡng tinh thần dân tộc và khẳng định vị thế văn hóa Việt Nam trong hội nhập.

Thùy Dương