Tứ Bàn tiền hiền
Theo trí nhớ của các bậc cao niên và tư liệu lịch sử của các dòng tộc để lại thì Tứ Bàn tiền hiền là đền thờ thất tộc - những tiền nhân có công khai canh đất Bàn Thạch xưa như câu thơ còn truyền lại: Hồ, Nguyễn, Trần, Huỳnh, Đỗ, Đinh, Lê/ Đồng hướng Nam du, hội nhất tề/ Lộ khai lưu hậu truyền tôn tử/ Kiết thành tất đạt cảnh tân quê.
Theo trí nhớ của các bậc cao niên và tư liệu lịch sử của các dòng tộc để lại thì Tứ Bàn tiền hiền là đền thờ thất tộc - những tiền nhân có công khai canh đất Bàn Thạch xưa như câu thơ còn truyền lại: Hồ, Nguyễn, Trần, Huỳnh, Đỗ, Đinh, Lê/ Đồng hướng Nam du, hội nhất tề/ Lộ khai lưu hậu truyền tôn tử/ Kiết thành tất đạt cảnh tân quê.
![]() | |
|
Bia “Di tích đã được bảo vệ” ở phía trước Tứ Bàn tiền hiền. (Ảnh P.V.B). |
Sau khi an cư lạc nghiệp, để tưởng nhớ công ơn của người đến trước, 7 dòng tộc chung sức chung lòng dựng nên ngôi đình, gọi là Tứ Bàn tiền hiền, để thờ tự tiền nhân và Thành hoàng bổn xứ cùng chư vị khác mà theo họ nhằm để trừ tà, nhân dân quen gọi là thờ Ngũ hành. Câu đối xưa nói lên điều này: Tây trấn Thành hoàng vong địa sở/ Đông lưu giang phước tọa thủy phù.
Cuộc sống của cư dân Tứ Bàn xưa ngày càng phát triển, bến Vạn liền kề bên sông Trường Giang tấp nập thương nhân, trong đó có Hoa kiều; họ tìm đến nơi này để trao đổi, buôn bán những nhu yếu phẩm hằng ngày, một số người xin được định cư lập nghiệp ở vùng đất này. Sự có mặt của những Hoa kiều cùng với tín ngưỡng mới du nhập vào như tục thờ Kim Đài Thánh mẫu, Quan Thánh... đã được nhân dân địa phương tiếp nhận, để rồi có người gọi Tứ Bàn tiền hiền là... chùa Ông, như câu đối xưa còn lưu truyền: Bắc phụ Kim đài phi tử đệ/ Nam tôn Quan Thánh đảnh hương đăng.
Vào thăm Tứ Bàn tiền hiền, ta còn nhìn thấy được một vài nét chạm trổ trên những cấu kiện gỗ qua đôi bàn tay khéo léo của thợ Vân Hà xưa (nay thuộc làng Vân Hà, xã Tam Thành, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam). Tuy vậy, đâu đấy vẫn có sự pha trộn giữa cốt cách kiến trúc xưa và nay, bởi những lần trùng tu, các chủ nhân ở đây chưa thật sự trung thành với thực tế lịch sử đã tạo dựng nên nó. Một tường rào bao quanh, cổng tam quan được xây bằng vôi và đá cóc (đá ong, đá quánh), nóc lợp ngói âm dương; mỗi cột ở cổng đều có đắp những đường gờ và chạm nổi những hoa lá cách điệu. Tất cả đều được che phủ bởi những tán cây cổ thụ, bốn mùa xanh lá.
Bước vào, bên phải là am thờ cô hồn âm linh, ẩn mình sát bức tường, được bóng cây che nắng mưa. Cạnh đấy, trong một không gian khoáng đãng của mảnh sân rộng là dinh thờ Bà và dinh Phật (nay là phòng dạy lớp mẫu giáo), bên trái là nhà trù. Trước cửa vào nội thất của nhà thờ thất tộc là một lư hương nhỏ nằm chính giữa khoảng sân; nhìn lên trên mảng tường nhỏ phía trước có dòng chữ Hán: “Tứ Bàn tiền hiền tự sở” (được tôn tạo thêm năm 2005). Nóc nhà thờ trang trí hình lưỡng long tranh châu, lối dẫn vào có hai con vật hình lân mình sư tử được gắn những mảnh gốm đủ màu trông rất đẹp mắt.
Nội thất được xây dựng theo kiểu ba gian, hai chái. Chính giữa nhà thờ là một bệ thờ, có lẽ mới được thiết lập lại khi tôn tạo. Bên trong gian chính là bệ thờ tiền hiền, tả hữu thờ hậu hiền. Các gian thờ đều bài trí trang nghiêm. Hai chái còn lại thờ Kim Đài Thánh mẫu và Quan Thánh.
Hằng năm, từ ngày 13 đến 15 tháng Giêng âm lịch là lễ tế Xuân, cầu cho dân lành an khang thịnh vượng, tạ lễ đất đai, Thành hoàng bổn xứ; rằm tháng Tám là lễ tế Thu, tưởng nhớ tiền, hậu hiền, những người có công khai phá đất đai, lập nên làng xóm. Đây cũng là dịp để dân làng làm lễ cúng bến thuyền, nghinh thần và hội hè; nam thanh nữ tú trổ tài thi thố qua các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống địa phương.
Tứ Bàn tiền hiền là di tích đã được đăng ký bảo vệ và ngành VHTT địa phương đang hoàn tất hồ sơ trình UBND tỉnh Quảng Nam ra quyết định cấp bằng di tích cấp tỉnh. Dẫu rằng, qua các lần trùng tu, tôn tạo, Tứ Bàn tiền hiền có nhiều đổi thay về kiến trúc, nhất là một số cấu kiện gỗ bị hư hỏng do thời gian đã được bê-tông hóa, nhưng ngôi thờ tiền hiền này vẫn là nơi ghi dấu của tiền nhân bao đời nay trên mảnh đất này.
Phạm Văn Bính
