Truyện ngắn: Bà Hạ

Phùng Nhân

Hải Phòng những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp với những trận chiến đấu 'quyết tử' của quân, dân thành phố diễn ra ác liệt trên từng ngả đường, ngõ phố. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ thành phố những ngày cuối năm 1946 không thể nào quên ấy, đã có biết bao tấm gương hy sinh của đồng bào, chiến sĩ mà mới hôm qua, trong cuộc sống thường ngày ở một thành phố đông dân, họ còn phải bon chen giành giật từng bát cơm, thùng nước, nhưng khi 'giặc đến nhà đàn bà cũng đánh' họ đã đứng lên chiến đấu đến cùng để bảo vệ thành phố quê hương. Những tấm gương hy sinh dũng cảm đó được nhiều nhà báo, nhà văn ghi lại với những trang viết mà dẫu thời gian có trôi đi, hôm nay đọc lại vẫn vô cùng sinh động. Một trong những trang viết đó là truyện ngắn 'Bà Hạ' của Phùng Nhân, mà trong số đặc biệt Báo Hải Phòng Cuối tuần chào mừng kỷ niệm 50 năm giải phóng Hải Phòng muốn giới thiệu để bạn đọc có dịp được sống lại một thời Hải Phòng hừng hực khí thế quyết chiến, quyết thắng quân thù.

Quân Pháp có xe xích hộ tống, đánh xuống ngã tư Bảo An Binh. súng nổ dữ dội, Khói bốc cao xám cả một vùng. Chiến sự kéo dài tới chiều muộn. Khói đạn khét lẹt. Chiều đi nhanh, sương dăng dăng mờ ảo.

Là đơn vị có nhiệm vụ chặn đánh quân địch, nếu chúng thọc sâu xuống đường Quần Ngựa, tôi nhìn theo những người dân,từng tốp từng tốp, men theo hai bên phố tiến lên tăng viện cho vùng đang có chiến đấu, với tâm trạng vừa phấp phỏng vừa háo hức.

Tiếng súng thưa dần, địch co về phía Nhà hát thành phố. Trên đường nhiều người đi lại. Một người nói:

- Cái bà bị bọn Tây bắn gần nhà thầu khoán Phạm Kim Bảng là bà 'Hạ máy nước' đấy.

Tiếng một người khác:

- Lúc đầu tôi không tin, vì sáng nay tôi còn thấy bà quanh quẩn gần máy nước công cộng đối diện với nhà thờ Cửu Tuân.

Nghe nói đến tên bà Hạ, tôi bước ra khỏi công sự, ngỡ ngàng, xúc động. Con người này với lớp trẻ chúng tôi là một kho chuyện kể hấp dẫn vô tận.

- Có thật bà Hạ bị tụi Tây bắn chết không, các bác?

- Thật chứ giả à?

Trước mặt tôi là một người đàn ông cao lớn. Bác mặc một chiếc áo màu xanh đã bạc, không có tay, kiểu gi-lê, quần ngắn, chân không đi dép. Bác nói thêm với tôi về bà Hạ:

- Vào lúc ấy, tôi nấp bên trong tường bao gần tiểu đội anh Kỳ 'Trương Phi', bộ đội Ký Con, nhìn ra thấy bà Hạ từ dưới phố chạy lên, tay vung vẩy chiếc khăn vuông như mọi khi. Khi tới chỗ tôi nấp bỗng bà băng ra giữa đường, vừa chạy vừa chửi: tổ sư bọn xâm lược... Thằng Tây đánh vào trại Bảo an Binh nhà mình rồi, đồng bào ơi! Đánh bỏ mẹ nó đi, bà con đồng bào ơi! Ngay lúc đó, một xe háp-tờ-rắc từ phía nhà hát thành phố chạy tới, bọn lính trong xe đã nã đạn vào bà. Tôi nhổm người lên thì một người bên cạnh nắm vai tôi ấn xuống. Cùng lúc súng của anh em tự vệ từ trong các nhà bắn như vãi đạn về phía địch. Bọn địch lùi xe về phía Cầu Đất. Mấy anh tự vệ cáng bà về đường Hàng Kênh để xuống ngã ba Cánh Gà.

Người đàn ông đi tiếp, đầu hơi cúi. Tôi nhìn theo. Nhờ chút ánh sáng còn rớt lại trước khi trời tối hẳn, tôi đọc được hai chữ Phùng Hưng Sơn đen trên lưng áo. Có thể ông sống bằng nghề kéo xe tay, vì Phùng Hưng là tên một hãng cho thuê xe của Hải Phòng.

Từ ngày nào không ai nhớ nữa, bên ngoài hàng rào cuối vòng sân Quần Ngựa, đối diện với tháp chuông nhà thờ Cửu Luân,chính quyền Pháp bảo hộ đặt một vòi nước công cộng, phía trên cột mốc phân giới thuộc nội châu thành, còn phía dưới là ngoại châu, phần đất thuộc huyện Hải An. Như vậy có ý là dân thành phố được dùng nước máy, còn dân ngoại thành dùng nước gì là tùy! Đó là một vòi nước cuối nguồn nên quanh năm tậm tịt. Cả một vùng dân cư đông đúc mà chỉ có một vòi nước nên cảnh chen lấn, xô đẩy, thùng chạm thùng, lời đối lời ồn ào như vỡ chợ từ sáng sớm đến tận đêm khuya. Các cậu nhỏ, cô sen, những người lao động lam lũ, những người chuyên nghề gánh nước thuê bu quanh vòi nước, đánh chửi, cãi cọ nhau như cơm bữa.

Những năm còn đi học, mỗi khi có việc vào thành phố, tôi thường phải đi qua ngàn cái máy nước, ranh giới nội châu và ngoại châu thành phố. 'Máy nước bà Hạ' và những ngàn trái ở đây in vào ký ức tuổi thơ của tôi hình ảnh khó quên.

Một lần, tôi đứng sững lại gần máy nước, lạ lùng thấy một người 'dám' đánh nhau với bà. Sáng hôm ấy bà từ phía Quán Bà Mau, một tay cầm chiếc khăn vuông vung vẩy theo bước đi, mắt nhìn đám người đang chan lấn nhau. Bà chỉ chiếc thùng dưới vòi nước, hất hàm hỏi:

- Thùng của đứa nào đây? Bỏ ra.

Một cậu nhỏ, chừng là lính mới, chưa thuộc luật máy nước, trừng mắt nhìn bà:

- Thùng của tôi. Bà làm kiểu gì thế?

- Làm cái con mẹ mày!

Miệng chửi, chân bà đá tung chiếc thùng bay ra xa. Thằng nhỏ miệng há hốc, mặt dại đi vì tức giận, đôi móc thùng tuột khỏi tay lúc nào không biết. Hai tay cậu nắm chặt chiếc đòn gánh, giơ lên, nhằm thẳng đầu bà Hạ chém xuống. Những người đứng chung quanh trố mắt trước hành động liều lĩnh của chàng thanh niên vừa lớn. Vì từ nhiều năm nay có ai dám chạm đến trùm máy nước gan dạ này. Cùng lúc chiếc đòn gánh vụt xuống, bà Hạ xoay người, chiếc khăn vuông trong tay bà hất ngược lên quán chặt nửa đầu chiếc đòn gánh. Bằng một động tác mạnh đột ngột, bà giật mạnh chiếc khăn vuông về phía mình. Chiếc đòn gánh tuột khỏi tay cậu nhỏ, lao ngang sườn bà Hạ, rơi xuống đất.

Hai mắt cậu nhỏ mở to, cậu lùi, lùi thêm, rồi quay lưng ù té chạy. Hạ thản nhiên cúi xuống dựng chiếc thùng bà vừa đạp đổ, nhặt đôi móc cắm vào trong. Bà ngoắc tay vẫy một cô:

- Con này đứng đấy à? Xếp thùng vào hứng nước đi.

Bà quay lại, nhặt chiếc đòn gánh, rồi nói thêm với cô gái:

- Mày hứng xong thì xếp đôi thùng của thằng kia vào hộ nó. Ai đánh mà chạy- Bà lấp liếm, chửi đổng kiểu kẻ cả- Các anh, các chị, xếp thùng, đến phiên ai thì người ấy lấy, không chen nhau!

Nghe giọng nói và cử chỉ thản nhiên của bà, mọi người đưa mắt nhìn nhau, nhẹ nhõm. Đến lúc ấy mọi người mới nhận ra ở đầu một góc khăn vuông của bà có buộc một xâu những xu đồng, vũ khí của một bà già có võ.

Bà Hạ trở thành trùm máy nước, một người bán nước máy, một đồng Bảo Đại một gánh. Cô cậu nào đưa cho bà một đồng Khải Định (đồng bố) được ba gánh. Cô, cậu nào chưa có tiền, cho chịu. Quỵt thì bán xới!

... Cách mạng Tháng Tám thành công, bẵng đi một thời gian chẳng hai biết bà Hạ phiêu bạt nơi đâu. Rồi người ta thấy bà, chiếc khăn vuông trên cổ, hai tay giữ vành chiếc mẹt to như cái nia trên đầu. Gặp các cô sen, cậu nhỏ bà vui vẻ khoe:

- Tao đổi nghề rồi. Bán trầu cau. Chúng mày nhớ mua hàng cho tao nhé!

Một cô gái hỏi:

- Thế mẹ không bán nước nữa à?

- Cha bố cô... Trước kia nước của thằng Tây, tao bán. Cách mạng thành công rồi, tao có phải là Việt gian, phản động đâu. Mấy tháng trước, các anh tự vệ khu không chê tao già thì bây giờ đầu đã mang 'sao vuông' như ai rồi.

Gió bấc thổi lạnh cứng da thịt. Đường Quần Ngựa, Lạch Tray như một cái ống khổng lồ hút gió ù ù. Tôi quay lưng lại hướng gió, ngồi xuống một phiến đá, lưng tựa vào thành ụ chiến đấu, mắt nhắm nhưng không tài nào chợp mắt được. Mấy ngày liền, trung đội tôi luôn vờn nhau với bọn lính Pháp. Bọn chúng chui trong các xe xích, còn chúng tôi luồn từ nhà này sang nhà khác, theo dõi từng bước tiến của chúng.

Chiều đến, không gian im ắng. Tôi đang nghĩ đến một trận đánh dữ dội sắp tới thì chú Dậu, liên lạc viên của trung đội đến. Dậu bảo tôi:

- Lệnh của trung đội, anh cho tiểu đội rút về Đồng Thiện.

- Đơn vị nào đến thay?

Dậu nói nhỏ, vẻ quan trọng:

- Rút ra hết. Rút sang bên kia sông, chuẩn bị lực lượng phản công.

Nghe Dậu nói, tôi mừng quá. Phản công. Nhất định rồi. Phải đánh lớn mới diệt được bọn chúng.

Tiểu đội tôi theo ngõ Lý Tiêm sang đường Hàng Kênh. Vừa đến rạp Văn Minh Ca quán tôi nghe tiếng người gọi tên mình.

- Anh Nhân!

Từ bên kia đường, một người con gái ào đến chỗ tôi. Dung- tên cô gái- đưa tay cho tôi nắm vẻ tự nhiên. Cô nói:

- Tôi tưởng các anh sang sông rồi.

- Sắp sửa đây. Với bọn này không đánh to không thắng nhanh được.

Tôi hỏi Dung:

- Sao cô ở đây?

- Anh không thấy tôi có gì khác à? áo màu gụ, vai đeo túi thuốc cứu thương, tay cầm súng chiến đấu như ai nhé...

Tôi ngắm nhìn Dung vẻ thán phục. Chưa lần nào tôi thấy Dung tươi đẹp như lúc này. Chúng tôi là đôi bạn hàng xóm, cùng học trường huyện. Hôm tham gia tự vệ khu phố, tôi có sang nhà Dung chuyện trò và chia tay nhau. Chúng tôi đứng bên nhau trước cổng nhà Dung, rồi khi chia tay, Dung nói: 'Gặp nhau ở mặt trận'. Câu nói tưởng như cửa miệng, vậy mà sớm trở thành hẹn hứa. Dung hỏi tôi:

- Anh thấy tôi mặc áo nâu hợp chứ? Có ưa nhìn không?

Tôi nhìn như thợ may thử áo cho khách.

- Hình như áo hơi chật.

- Biết mà... Con trai chỉ được cái...

Dứt câu, nét mặt cô thoáng thay đổi, mắt chớp chớp như muốn khóc:

- Đêm qua chôn cất bà Hạ rồi. Người đi đưa khá đông. Mấy anh tự vệ bắn súng chào vĩnh biệt. Các anh ấy bảo: ai đánh nhau với Tây, hy sinh đều được bắn súng chào.

Chúng tôi đứng bên nhau thêm vài phút, rồi chia tay. Đến Đồng Thiện, tiểu đội tôi được lệnh sang sông, về Kiến An. Đi trên cầu Lãm Hà, nhìn xuống dòng Lạch Tray, nước triều kiệt chảy ào ào. Phía Hải Phòng, góc nào cũng có những đám cháy, khói bốc cao, đen kịt.

Tôi yêu Hải Phòng của tôi, bước đi mà lòng muốn trở lại. Tôi yêu những con người Hải Phòng lam lũ, mạnh mẽ như bà Hạ, cô Dung...

Chiến tranh sẽ còn dài. Những người lính chúng tôi sẽ phải đi suốt chặng đường dài ấy./.

P.N