Trở thành trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ

Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Hải Phòng có vai trò hết sức quan trọng. Bộ Chính trị ra Nghị quyết 32 về xây dựng và phát triển Hải Phòng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhấn mạnh vai trò này, đồng thời xác định rõ nhiệm vụ của thành phố. Đó là, Hải Phòng phải phấn đấu trở thành địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp văn minh, hiện đại trước năm 2020.

Là lực lượng sản xuất trực tiếp, nền tảng và động lực phát triển kinh tế-xã hội, hoạt động khoa học và công nghệ phải phát triển ngang tầm với yêu cầu phát triển của thành phố trong tình hình mới. Theo đó, đến năm 2020, Hải Phòng phấn đấu trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ và cả nước, vươn tới trình độ khoa học-công nghệ phát triển khá so với các nước trong khu vực.

Là một cực tăng trưởng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, những năm qua, hoạt động khoa học và công nghệ thành phố góp phần tích cực vào quá trình đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, năng suất, hàm lượng chất xám trong sản phẩm hàng hoá, tạo bước chuyển biến về chất lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội. Công nghệ thông tin, công nghệ điện tử-tự động hoá, công nghệ sinh học thâm nhập ngày càng mạnh vào nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội, hoạt động khu vực kinh tế tư nhân, đời sống gia đình, khu vực hành chính nhà nước, dịch vụ công và hoạt động của các tổ chức xã hội. Mặc dù vậy, so với yêu cầu của sự phát triển, hoạt động khoa học-công nghệ thành phố đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ. Phần lớn các nhà nghiên cứu ở địa phương không chuyên nghiệp, kỹ năng và sự hiểu biết về phương phấp luận nghiên cứu khoa học còn hạn chế; các tổ chức khoa học công nghệ chưa đủ mạnh. Sự phân bố cán bộ khoa học trên các lĩnh vực không đều. Đáng quan tâm là trong lĩnh vực cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin; ngành trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông-lâm-hải sản, số cán bộ có học hàm, học vị, trình độ thạc sĩ, tiến sĩ rất ít. Phần lớn những người có học hàm, học vị cao, cán bộ chuyên môn đầu ngành ở độ tuổi ngoài 50...

Đảng và Nhà nước xác định thúc đẩy nền kinh tế dựa trên sự phát triển khoa học công nghệ, giáo dục-đào tạo. Muốn vậy, cần đẩy mạnh xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học-công nghệ trở thành nền tảng, động lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nhanh, bền vững đất nước. Hải Phòng cần đổi mới cơ chế quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống theo hướng tập trung vào một số lĩnh vực trọng điểm đòi hỏi trình độ cao; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao dân trí, cải thiện điều kiện sống nhân dân, đồng thời tính đến các lĩnh vực đi tắt, đón đầu đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế. Nội dung đổi mới cơ chế quản lý khoa học-công nghệ cần tập trung vào việc xây dựng kế hoạch; giao trực tiếp, tuyển chọn tổ chức cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ; đánh giá, nghiệm thu; khen thưởng; quản lý kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu; quản lý tài chính đối với việc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Đồng thời cần đổi mới công tác thông tin quảng bá, chuyển giao kết quả nghiên cứu trong cộng đồng. Có như vậy mới chủ động phát huy cao độ nguồn lực khoa học-công nghệ của địa phương, tranh thủ tốt nguồn lực khoa học-công nghệ của trung ương, nâng cao hiệu quả hợp tác về khoa học công nghệ.

Thạc sĩ Nguyễn Văn An

( Phó Giám đốc Sở Khoa học-Công nghệ thành phố )