Trợ cấp học sinh, sinh viên khó khăn hơn 620.000 đồng/tháng?

Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện chính sách trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên học tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, với mức dự kiến khoảng 622.000 đồng/ tháng.


Bên cạnh việc dự kiến sẽ hỗ trợ tiền ăn ca cho các trẻ em mẫu giáo, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đang triển khai  Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện chính sách trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên học tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Điều đặc biệt là mức trợ cấp này dự kiến khá cao, khoảng 622.000 đồng/ tháng.

Nhiều đối tượng được thụ hưởng

Theo Dự thảo Thông tư, sẽ có 5 nhóm đối tượng là  học sinh, sinh viên được hưởng trợ cấp xã hội.

kghdgzd
 Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn: Sẽ được trợ cấp hơn 620.000 đồng/ tháng

Đối tượng thứ nhất là người dân tộc thiểu số ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ để xác định học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số là giấy khai sinh bản gốc, hoặc giấy đăng ký kết hôn của bố mẹ (trường hợp giấy khai sinh bản gốc bị thất lạc); trong đó có ghi bố họăc mẹ là người dân tộc thiểu số và có hộ khẩu thường trú ít nhất là 3 năm ở địa bàn quy định vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Đối tượng thứ hai là học sinh, sinh viên có cha mẹ thường trú tại vùng cao miền núi (trừ thành phố, thị xã, thị trấn) và vùng sâu, hải đảo. Căn cứ xác định học sinh, sinh viên có cha mẹ thường trú tại vùng cao miền núi là sổ hộ khẩu (bản sao) có công chứng, cha và mẹ ít nhất có 2 năm thường trú ở vùng cao cho tới ngày học sinh nhập trường.

Thứ ba là người mồ côi không nơi nương tựa. Theo đó, học sinh, sinh viên là người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa, không có người đỡ đầu chính thức, không có nguồn thu nhập ổn định; Học sinh mồ côi cha hoặc mẹ, nhưng bố hoặc mẹ còn lại đi lấy vợ, hoặc lấy chồng, không ở chung và nuôi con, con không nơi nương tựa, không có người đỡ đầu chính thức, không có nguồn thu nhập ổn định (cả hai trường hợp này học sinh phải xuất trình giấy xác nhận của UBND cấp xã); Học sinh, sinh viên xuất thân là trẻ em bị bỏ rơi đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội đã đến tuổi trưởng thành, tiếp tục học tại các cơ sở đào tạo (trường hợp này học sinh, sinh viên phải có giấy xác nhận của cơ sở bảo trợ xã hội).

Nhóm đối tượng thứ tư là người tàn tật, người khuyết tật có khó khăn về kinh tế. Căn cứ để xác định học sinh, sinh viên là người tàn tật nặng mà suy giảm khả năng lao động từ 41% trở lên, đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội, hoặc ở cộng đồng, là giấy xác nhận của Hội đồng Giám định Y khoa có thẩm quyền và xác nhận của UBND cấp xã, cơ sở Bảo trợ xã hội. Học sinh, sinh viên là người khuyết tật có khó khăn về kinh tế là người thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Pháp luật có giấy xác nhận của UBND cấp xã.

Nhóm đối tượng thứ năm là người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vượt khó học tập. Nhóm đối tượng này được quy định khá rộng, bao gồm: Học sinh, sinh viên thuộc hộ gia đình bị thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, tai nạn, bệnh tật ốm đau dài ngày, gặp khó khăn về kinh tế trong thời gian theo học, có giấy xác nhận của UBND cấp xã và giấy xác nhận của bệnh viện;

Học sinh, sinh viên thuộc hộ gia đình thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật, trong những trường hợp sau đây được hưởng trợ cấp xã hội, bao gồm: học sinh, sinh viên là con của hộ phụ nữ đơn thân nuôi con, có giấy xác nhận của UBND cấp xã; học sinh, sinh viên là con nuôi của hộ gia đình nhận nuôi từ  hai người trở lên  là con mồ côi, hoặc trẻ em bị bỏ rơi, có giấy xác nhận của UBND cấp xã; học sinh, sinh viên là con công nhân, viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động được hưởng trợ cấp thường xuyên mà gia đình thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Pháp luật, có giấy xác nhận của UBND cấp xã; học sinh, sinh viên là con hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo theo quy định chung của Nhà nước, học sinh, sinh viên có giấy xác nhận hộ nghèo do UBND cấp xã xác nhận.

Nếu bỏ học không có lý do, phải hoàn lại tiền

Các đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội là học sinh, sinh viên đang học tại các cơ sở đào tạo, khoá học chính quy, có thời gian từ 1 năm trở lên tại các cơ sở giáo dục nghề, giáo dục trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, không có lương hoặc sinh hoạt phí. 

Những đối tượng trên sẽ được hưởng mức trợ cấp xã hội hàng tháng bằng 65% so với mức lương tối thiểu hiện đang áp dụng và được điều chỉnh theo sự thay đổi mức lương tối thiểu trong hệ thống thang, bậc lương của Nhà nước quy định. Như vậy, nếu mức lương tối thiểu từ 1/5/2011 là 830.000 đồng/tháng thì các đối tượng được hưởng trợ cấp sẽ nhận được 622.000 đồng/ tháng.

Dự thảo cũng quy định, tiền trợ cấp sẽ được cấp trực tiếp cho học sinh, sinh viên, khi được hội đồng xét duyệt trợ cấp của nhà trường thông qua. Tuy nhiên, học sinh, sinh viên đã được cấp trợ cấp xã hội mà tự ý trốn học, vắng mặt trên lớp không lý do thì thời gian trốn học, vắng mặt trên lớp được cộng dồn để trừ tiền trợ cấp vào kỳ tiếp theo. 

Đặc biệt, nếu học sinh tự ý thôi học mà không có đơn xin thôi học được gia đình và địa phương xác nhận, hoặc vi phạm kỷ luật buộc thôi học, phải bồi hoàn toàn bộ số tiền trợ cấp đã nhận từ đầu khoá học cho đến thời điểm thôi học hoặc bị kỷ luật buộc thôi học. Nếu học sinh, sinh viên không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện, học tập, không được lên lớp phải học lưu ban thì chỉ được hưởng 50% mức trợ cấp ở năm học lưu ban và nếu còn tiếp tục lưu ban năm thứ hai thì chỉ được hưởng 30% mức trợ cấp…

Vân Thanh